Posted by: Phần mềm kế toán thuế - VACOM - HTKK mới nhất | 27/08/2009

Anh Hùng trong Thống Hối – Phaolo Bột họ Kẻ Lựa


ANH HÙNG

TRONG

THỐNG – HỐI

+

PHAOLO BỘT

VỊ TỬ – ĐẠO TRẺ TRUNG NGƯỜI BẮC – KỲ

ĐỜI SỐNG – NHÂN ĐỨC

VÀ SỰ CHẾT QUANG VINH CỦA NGƯỜI

————– ] ————-

TÁC – GIẢ

Cha Gustavo Mai – Tự – Ích

Giải thưởng Hàn – Lâm – Viện

THƯ ĐỨC CHA ĐÔNG

GIÁM MỤC ĐỊA PHẬN TÂY KÝ.

Toà Giám – mục Địa phận Tây ký.

Hà – nội ngày 21 – 11 – 1904.

Bạn rất quí mến,

Say mê biết bao khi đọc Tiểu sử Phaolô Bột. Trrước kia tôi đã sâu sắc cảm phục khi thu thập những bằng chứng trong đó sự trong trắng, những giọt nước mắt, lòng dũng cảm khí phách anh hùng của nguời, được vẽ lại minh xác và  bằng  một  giọng thán phục biết bao.

Tôi chúc tụng Chúa đã chọn bạn làm người viết Tiểu sử vị Tử đạo dễ mến đó. Nhờ bạn, nhiều người sẽ cảm thấy khả  ái tư cách con người đó, và sẽ được ích bởi gương lành  đời sống của người.

Vì, ai mà không cần tự thúc đẩy mình để biết làm tôi, yêu Mến hơn, Chúa Giêsu,Vua chúng ta, người Anh và là   phần thưởng chúng ta; tắt một nhời, ai mà không cần trở lại, không cần lấy lại sự tin tưởng vào lòng lân tuất Chúa?Những kẻ khó, nghĩa là tất cả, sẽ tìm lại được lòng trông cậy đó, chí dũng cảm đó bởi tiếp xúc với người anh hùng của bạn.

Cùng bạn độc giả

—`—

Vì những cuốn sách viết ra từ đầu thế kỷ, và với đà tiến triển lạ lùng trong Văn Chương Việt-Nam, nên không thể đáp ứng khiếu thẩm văn của những người sống giữa thế kỷ.

Để tiếp theo số đặc biệt Tạp  – Chí Trái Tim Mẹ, năm Tân – mão (1951) về các Đấng Tử Đạo Việt Nam, chúng tôi mạn phép sửa lại lối văn của cuốn truyện PhaoLô Bột, mong vừa ý phần nào các bạn đọc, và nhất là đem lại của ăn bồi bổ tinh thần cho các linh hồn.

Bản sửa lại.

Tựa

Tiểu sử vị Tử Đạo PhaoLô Bột. Đây là một trang sử thêm vào “Lịch sử những vị Tử Đạo trẻ trung xứ Annam và Bắc Kỳ và sẽ không phải là súc động, kém chói lọi.

Cuốn nhỏ này lần lượt cho chúng ta tháy nỗi đau khổ và những băn khoăn của một đứa trẻ sa ngã trong một lúc yếu đuối, và những nhiệt tình thánh thiện cùng lòng yêu mến anh hùng của người môn đệ dũng cảm, khóc lóc tội mình với tất cả nước mắt của trái tim và rửa trong máu mình sự xỉ nhục đã làm cho chúa tốt lành.

Những trường hợp người thanh niên đó phải trải qua cũng đáng chú ý chúng ta thông cảm với nỗi đau thương của cậu, và sự thống hối của cậu cũng như chúng ta hoan nghênh sự trở lại và sự đắc thắng của cậu.

Một thi sĩ có viết:

“ Đẹp thay nghĩa vụ chẳng khi sờn;

Nhưng hối quay về còn đẹp hơn.”

Chúng tôi không ký cả hai tay vào câu châm ngôn đó, hoa mỹ hơn là đúng sự thật, vì sự trong trắng của hương vị mà lòng thống hối không tìm lại được nữa. Song le, đúng là sự cố gắng của một linh hồn, khi nhận biết mình làm lỗi, ra khỏi vực thẳm đã rơi vào để trèo lên đỉnh nhân đức và trở lại con đường thánh thiện qua con đường thống hối và yêu mến, thì quang cảnh đó đáng Chúa ưa thích và loài người thán phục. Và mọi thống hối đều có vẻ đẹp lý tưởng thì còn đáng cảm phục và dễ cảm tình hơn biết bao chân dung một cậu bé, lỗi phạm thì chốc nhát, và đáng giảm nhẹ do những trường hợp, thế mà sự đền bù, trái lại, thì bền bỉ và anh hùng.

Chúng tôi thú thật, là trong các đấng Tử Đạo, mà câu chuyện được Đức Cha Đông, Giám Mục Bắc Kỳ, tín cẩn trao cho chúng tôi, thì tư cách của PhaoLô Bột quyến rũ chúng tôi. Chúng tôi đã phác hoạ lại với lòng yêu mến hơn, vì chúng tôi nghĩ rằng: Câu chuyện về đời sống của người sẽ bổ ích hơn do gương ăn năn thống hối của người. Cả sự yếu đuối của người, đối với người khác, cũng là một lý do đem lại lợi ích đích thực và một lòng hy vọng vững chắc hơn.

Những người đã ngả nghiêng trong cuộc đấu tranh đời sống, thì cần thiết được bồi bổ bởi quang cảnh một linh hồn đang tự làm lại và hồi phục những tước vị; sự trở lại đối với họ sem ra khó khăn biết bao, và tự nhiên dễ thấy thất vọng chừng nào.

Chúng tôi không nghi ngờ là những phẩm hạnh của Thánh Tông đồ Gioan thánh Lui Gonzaga, đã giữ vững hay đã đưa về nhiều linh hồn trong sự trong trắng và sự thánh thiện, bởi gương lành nhân đức giai bền của các vị. Nhưng sự tưởng nhớ đến những Augustinô, và những Mađalêna lại không là khởi điểm của cuộc trở lại có nhiều và còn cần thiết hơn nữa, đối với những người có một tâm tình thống hối mạnh mẽ, và hiểu rằng họ có thể, họ phải trở về cùng Đức Chúa Trời, và họ cũng kêu lên:

“Ôi đấng tốt đẹp luôn luôn đáng mến, con yêu người quá muộn, nhưng sẽ yêu mãi mãi. – Tôi đã tìm thấy Đấng lòng tôi yêu mến, tôi đã tìm lại được người, tôi không còn buông ra nữa.”

Chúng tôi thắm thiết tin tưởng, đó là hiệu lực êm đềm của đời sống và gương sáng của PhaoLô Bột. Chớ gì Chúa thực hiện điều mong đợi đó, để chúng tôi được an ủi, và mọi người được rỗi.

Ngày 15 – 1 – 1905

Ngày lễ Kính Tên Chúa Giêsu

MAI – TỰ – ÍCH

Linh mục


ANH HÙNG

TRONG

THỐNG HỐI

=:=:=:=:=:=:=:=:=:=:=:=:=:=:=:=:=:=:=:=

I

CHÀO ĐỜI

TUỔI THƠ

(1841 – 1850)

PhaoLô Bột sinh năm 1841, ở xứ Sơn – Miêng, họ Kẻ  – Lựa. Họ này lúc đó gồm 60 nhân danh.

Do đó PhaoLô Bột là đồng hương với Xaviê Cần. Di hài vinh quang của vị Tử – Đạo Trẻ trung này an nghỉ trong nhà thờ Sơn Miêng. PhaoLô thường có dịp đến kính viếng hài – cốt của  Thầy Giảng anh hùng đó, và kỷ niệm đó góp phần không ít cho việc làm vững mạnh ơn thiên triệu của cậu.

Giáo – Đoàn Việt – Nam lúc đó bước vào một thời kỳ bách – hại mới. Năm vị thừa sai bị tống ngục và bị kết án tử hình. Nhờ sự can thiệp của viên sĩ quan chỉ huy tâu “Nữ – Anh – hùng” mà các ngài thoát tay độc dữ  hoàng – đế thiệu – trị. Tình thế tạm lắng dịu. Nhưng chẳng mấy chốc, Tự Đức tàn bạo kế ngôi thiệu trị, ra sắc chỉ khét tiếng tháng tám năm 1848, nhắc cho tín hữu rằng Cây Giá là dấu hiệu người Kitô hữu và là phận của người môn đệ Chúa Giêsu Kitô. Còn Đức Giám Mục Bắc – Kỳ, Đức Cha Liêu, thì đương đầu với kẻ bách hại bằng cách làm gương nhịn nhục và can đảm cho mọi người.

PhaoLô ít hưởng những thú vui gia đình. Một người em mất đi khi chưa đầy một năm, và cha cậu, ông Phêrô Bính, qua đời năm 1845, để lại đứa con duy nhất cho người vợ sầu khổ chăm nom.

Tình cảnh bà Maria Mẫn, mẹ cậu Phaolô lúc chồng chết, càng khổ sở hơn vì trước đây bà đã sống những ngày sung sướng hơn. Lúc kết bạn với Phêrô Bính, vợ chồng được sung túc khá, vì việc buôn gỗ lúc đó khá phát đạt, nên gia đình dư dật. Chẳng may trong những chuyến lên mạn ngược mua gỗ, ông Phêrô Bính mắc phải thói rượu chè cờ bạc, và chẳng mấy chốc thành khuynh gia bại sản. Những chi phí để chữa một bệnh kéo dài khiến những nguồn lợi cuối cùng cũng bị cạn, và người đàn bà thấy mình lâm cảnh thiếu thốn cùng cực.

Đứng vững được do tĩnh yêu người mẹ và lòng can trường của người Kitô – hữu, bà Maria Mẫn tính kế sinh nhai hẳn hoi và để nuôi nấng đứa con mình. Bà học nghề khâu nón, một công nghệ rất phồn vinh ở Sơn Miêng. Khi PhaoLô đến tuổi giúp được việc, cậu cùng với mẹ lo việc nhà cửa và làm nón, tìm hết cách giúp mẹ khỏi khó nhọc, kẻo hại đến sức khoẻ đã bị lao đao vì những thử thách sớm đến. PhaoLô một mình đi những chợ gần, và nhất là chợ Sơn – Miêng, để bán những nón mẹ đã khâu. Thấy cậu bé mặt mũi khôi ngô, xinh xắn, khách hàng đến rất đông. Thế rồi cậu trở về, bị đầy tiền mặt mũi tươi tỉnh: Người con sung sướng vĩ đã làm vui lòng mẹ mình, và người mẹ sung sướng vì đã có thể lo việc nuôi đứa con.

Người giáo hữu rất tốt đó chú ý không kém đến việc luyện đạo cho con, đứa con là cả một sự an ủi và vui mừng của bà. Chính bà dạy cho con những điều sơ khai về đạo, bà tập cho con quen đọc kinh cầu nguyện, một trong các chị em với bà giúp bà rất đắc lực trong việc đó; bà gì này đối với đứa trẻ mồ côi này, cũng yêu thương săn sóc như mẹ.

Nhờ sự chăm nom săn sóc đó, PhaoLô Bột chưa đầy mười tuổi, mà ngoan ngoãn đạo đức vượt các trẻ em trong làng.

Đức Chúa Trời đã hoàn thành việc giáo dục do những bàn tay mềm mại một người mẹ đạo đức và một bà gì tận tâm đã bắt đầu.

ƠN THIÊN TRIỆU

CỦA  PHAOLÔ BỘT

(1850 – 1851)

PhaoLô đã cảm thấy phấn khởi trong tâm hồn non nớt trong trắng mình ước vọng tiến tới trong sự thông thái, nhân đức, mà người mẹ của cậu đã thoáng thấy những vẻ đẹp.

Cậu muốn làm môn đệ thật của Chúa Giêsu Kitô, cậu ước mơ vừa làm sáng danh Chúa vừa đem hạnh phúc cho những người anh em mình bằng cách dậy cho họ biết và mến một thiên Chúa, Đấng là vui thích cho lòng tin cậu và khoái lạc cho trái tim âu yếm của cậu. Bà Maria Mẫn xúc động với những tâm sự ngây thơ của đứa con đã biết đáp lại đẹp đẽ những lời dạy của mẹ mình, và ơn Đức Chúa Trời. Nén lòng yêu thương, bà vui lòng hy sinh cho quê hương và Chúa mình đứa con yêu quí PhaoLô, lòng yêu cuối cùng, kho tàng cuối cùng của bà còn lại trên đời.

Vào năm 1850, Cha Khương, chính xứ Sơn Miêng, đến làm phúc họ Kẻ Lựa. Lễ lạy thật là sầm uất, người trở lại rất đông, dịp ơn Toàn Xá Đức Giáo Hoàng Phiô IX ban cho toàn thế giới, và được mừng một cách sốt sáng đặc biệt ở Bắc Kỳ. Thôi thúc bởi ơn Chúa đã canh cánh bên lòng, PhaoLô xin mẹ giới thiệu với Cha xứ để được nhận vào nhà Đức Chúa Trời, hy vọng một ngày kia được làm thầy giảng va làm linh mục. Bà mẹ nghĩ rằng không thể từ chối việc vận động đó. Bà đưa con đến nhà cha xứ ở, để mặc thánh ý Chúa định liệu. Cha xứ Khương một người có tính lãnh đạm, và diện mạo nghiêm khắc, thường không chú ý mấy đến những nhận xét do lòng yêu dấu, tính đa cảm mà có. Song, người đã hiểu của lễ này phải trả đắt biết bao đối với người quả phụ và người con độc nhất. Chắc là người biết lòng đạo của bà Maria Mẫn, vì người vẫn luôn coi sóc những họ thuộc xứ Sơn Miêng, trước làm Phó xứ, rồi làm chính xứ; nhưng người cũng biết gia cảnh bấp bênh và những thử thách của người quả phụ. Sợ rằng trong những điều kiện như thế, cả mẹ lẫn con khó mà kiên tâm đi theo ý định, nên người không muốn nhận của lễ hy sinh của họ. Thế là PhaoLô phải trở về kẻ Lựa với mẹ, khi làm nhà, lúc đi chợ búa, và vẫn luôn làm gương sáng cho các bạn hữu.

Song người chí nguyện niên thiếu đó vẫn nghe thấy vang tự đáy lòng tiếng gọi làm việc tông đồ và có lẽ làm linh mục. Cậu không từ bỏ những ý nguyện quả cảm của mình dù có nguy cơ một cuộc bắt đạo ngày càng tăng. Vì Tự Đức do sắc chỉ năm 1851 đã ra những hình phạt mới cho người Kitô hữu, vin cớ là nhừng người này đã giúp tay cho Hoàng – Bảo là anh mình mà chính Vua đã cướp ngôi. Cha Đông vừa chịu tử – đạo ở Sơn – Tây ngày 1tháng 5 năm đó và chẳng bao lâu cha hương sẽ mừng lễ mẹ người ở trên trời và mừng kỷ niệm quang vinh của người bạn mình vào ngày 1 tháng 5 năm 1852.

III

NHÀ XỨ SƠN MIÊNG

(1852 -1854)

Hồi đó, vào đầu năm 1852,Cha Khương lại về quê Kẻ Lựa, bà Maria Mẫn, vì con thúc giục, đã đưa con đến trình Cha xứ và Phaolô lại xin nài để được nhận vào nhà Đức Chúa Trời. Lần này, vị linh mục thánh thiện xúc động vì những lời khẩn khoản của người mẹ và con, và cho rằng việc thử thách đã đủ nên nhận cậu bé vào nhà xứ. Phaolô lên độ mười hai tuổi.

Phaolô Bột ở nhà xứ Sơn Miêng, đứng vào hạng đầu trong nhà Đức Chúa Trời, gọi là bậc các chú. Cậu được luyện tập để lên những bậc khác trong việc truyền giáo, vào Tiểu chủng viện hay trường Thày giảng để thành thầy giảng trước, rồi có lẽ làm linh mục, và trong các trường hợp, đều là Tông đồ ở Bắc Kỳ.

Nhà Đức Chúa Trời là một thứ cộng đồng gồm những người, trên hết có Đức Giám- Mục đại diện Tòa Thánh, rồi đến những vị Thừa sai ngoại quốc, những linh mục bản xứ, những giáo sĩ (thày già), những thầy giảng, học sinh (các chú), và cả những người giúp việc chuyên lo những việc chân tay trong nhà, nói các xứ; tóm tắt, là toàn bộ nhân vật tuỳ thuộc Nhà Chung. Tất cả nhân viên cộng đồng đó đều không kết bạn và không lĩnh lương bổng, nhưng Nhà Chung phải nuôi cho đến chết

Có nhiều bậc trong đẳng cấp đó. Những người trợ tá, gọi là các bõ, chuyên lo việc chân tay trong nhà chung nhà xứ. Học sinh hay các chú chia làm hai hạng, một hạng chỉ học và giúp việc các xứ, sau kỳ thử thứ nhất đó về ơn thiên triệu, những người tấn tới hơn được nhận vào các trường của Nhà Chung: những Tiểu Chủng Viện, hay “Trường Thày Giảng”, ở đó dạy về đạo, tập hát học chữ nho, chữ quốc ngữ; văn chương thì đành đến lúc giữ vào chủng viện chính thức.

Mãn khoá, các tiểu chủng sinh cũng như học viên trường thầy giảng, được Đức Cha sai đi giúp các cha thừa sai hay các cha bản xứ, và làm việc thầy giảng. Họ giữ việc đó trong vòng sáu hay bảy năm, rôi thấy người nào có ơn gọi vào Đại Chủng Viện để học Thần học, làm linh mục, là phó xứ hay chính xứ.

Phaolô Bột vào nhà Đức Chúa Trời theo bậc các chú, ở trường học xứ Sơn Miêng. Lập tức cậu hăng hái học hành và tập luyện các nhân đức. Đặt biệt cậu có tính rất nhu mì làm cho moi anh em đã được gương sáng nhân đức và tình vui vẻ của cậu hấp dẫn, càng có cảm tình với cậu hơn. Những tư cách về thân thể càng tăng thêm sự hấp dẫn. Nước da trắng lạ lùng, thân thể thon thon, kiểu cách lịch sự, điệu bộ nhã nhặn làm cho người trước mắt phải cảm thấy một sức ảnh hưởng nào đó.Vẻ nề nếp phản chiếu ở tất cả bản thân cậu, từ cách đi đứng đến ăn mặc, cho đến cả chữ viết, thật không sai lời ngạn ngữ: “Chữ viết là con người”.

Chẳng những không tự kiệu vì những thắng lợi đó, PhaoLô không quên lý do đã dẫn đưa mình vào nhà xứ, và lập tức cậu bắt tay vào công việc trọng đại do ơn kêu gọi của mình, dứt bỏ thế gian mà kết hợp mật thiết hơn với Chúa.

Nhân những lúc đến Sơn Miêng để bán nón hàng nhỏ mọn của mình, bà mẹ đến gặp con; nhưng PhaoLô ba năm ở nhà xứ Sơn Miêng, không xin phép về Kẻ Lựa lần nào. Dù ở với Cha xứ để giúp việc, tất cả học sinh nhà Đức Chúa Trời vẫn do cha mẹ mình đài thọ phí tổn về quần áo sách vở hay các đồ dùng trong lớp học. Mẹ cậu PhaoLô có lẽ không lo được những phí tổn lặt vặt đó; nhưng một người từ thiện tên là Mata Lịch gánh việc giúp đỡ cậu. Để tỏ lòng biết ơn, cậu PhaoLô nhiều lần đến thăm bà ở làng Phúc Lâm. Song le, dù bà mẹ nuôi cố nài, cậu cũng chỉ nhận cái cần thiết, và chỉ xin cầu nguyện cho mình “để được ơn lọn trong nhà Đức Chúa Trời cho đến chết”.

Bà này kết hợp những hy sinh của mình với của cậu con thiêng liêng, và để tâm đến cậu với một lòng yêu mến vững bền. Bà đoán rằng chí thông minh, sự chăm chỉ và lòng đạo đức yêu mến của cậu sẽ giúp cậu đáp lại ơn Chúa và một ngày kia được phúc làm Linh mục.

PhaoLô chỉ dứt bỏ người ta và các sự vật để kết hợp mạnh mẽ hơn với Chúa, Đấng cậu đã chọn. Nơi ở, thì giờ, nhân vật, tất cả đều góp nung nấu lòng hăng hái đó. Nhà thờ Sơn Miêng, nơi cậu đến đó lâu giờ, thì còn nức lên kỷ niệm và những nhân đức của thầy Xaviê Cần, mà cậu có thể kính viếng hài cốt người. Cuộc bách hại thổi mạnh lòng tin của cậu và làm cậu ước muốn ngành lá chiến thắng phúc Tử Đạo mà Cha Đông, Cha Hương vừa chiếm được. Một tấm gương gần gũi hơn và hiệu lực hơn, là Cha xứ Khương, gương đó gây một sức mạnh đối với các chú và các bố. Vị Linh mục thánh thiện đó thường nói với họ về lòng trung tín phải giữ với Chúa Kitô trong những thời kỳ giông tố này. Thâm tín của người thì mạnh mẽ, và người đã chứng tỏ lòng thành thật đó khi xưng đạo ra trước mặt các quan án và chịu mười bốn tháng tù ngục ở Hà – nội. Bị bắt ngày 21 tháng 1 năm 1861, hàng ngày người đợi chờ được chết vì đạo, thì Tự Đức, do ảnh hưởng người nước ngoài, rút những sắc chỉ cấm đạo và ban bố tự do tín ngưỡng. Dịp đó các Cha Đoài Và Cha Khương cũng được tha.

Với những ảnh hưởng sẵn nhiêu đó, PhaoLô Bột lớn lên trong ân sủng và khôn ngoan, hàng ngày xin cùng Chúa “không bao giờ để mình lìa Chúa”, như lời kinh trong thánh lễ, và như cậu đã nói với người ân nhân của cậu, là “được trung thành theo ơn Chúa gọi, ở trong nhà Đức Chúa Trời cho đến chết”.

Sau ba năm học hành tấn tới, người học sinh trẻ tuổi được giao cho các Linh mục đang điều khiển Chủng Viện Vĩnh Trị

IV

PHAOLO Ở TIỂU CHỦNG VIỆN

VĨNH TRỊ

(1855 – 1857)

Năm 1855, Phaolô lên mười bốn tuổi, từ trường xứ Sơn Miêng, cậu vào Chủng Viện Vĩnh Trị.

Vĩnh Trị, Kẻ Vĩnh, hay Vĩnh, ở trên bờ sông Nam – Định, không xa Ninh – Bình và cách cửa sông độ một ngày rưỡi. Trong vòng độ một trăm năm, làng này là trung tâm của Nhà Chung Địa phận Tây Ký. Làng đó có bốn nghìn nhân danh, toàn tòng. Đức Cha Liêu đóng đô ở đó. Bên cạnh nhà người ở, chúng tôi không giám gọi là Toà Giám mục, từ đầu thế kỷ thứ 18, có thiết lập trường trung học chính của Nhà Chung: trong nhà nguyện nhà trường có để xác Cha Hương tử đạo.

Nhà Chung địa phận Tây ký chưa bao giờ có những Chủng viện được tổ chức chu đáo. Chủng viện cổ nhất chỉ là một chiếc thuyền nhỏ nơi đó ẩn náu những người được tuyển lựa đầu tiên của Giáo Đoàn Việt Nam; rồi một trường thần học được dựng lên ở Kẻ Non, không xa những dãy núi ở tỉnh Hà – Nam; sau hết đã lập ba trường trung học ở Kẻ – Vĩnh, làng Doãn (gần Phủ Lý) và Hoàng Nguyên (thuộc tỉnh Hà – Đông). Không nên nghĩ rằng những trường đó rộng rãi to lớn. Đức Cha Liêu, khi tả lại thì viết rằng: “Hãy tưởng tượng đó là những túp nhà tranh, ẩn nấp dưới những bụi cây, vây quanh một túp nhà chính là nhà của vị Giám Đốc: đó là Chủng viện của chúng tôi.”

Chương trình lúc ban đầu thì sơ đẳng, vì thiếu chỗ, thiếu thầy, thiếu học trò; nhưng chẳng bao lâu phát triển và thành hình một chương trình học chẳng kém gì những trường trung học âu tây hiện đại.

Ở trường Kẻ Vĩnh, hay Vĩnh Trị ngoài việc học đạo lý, là môn được quí trọng nhất, vì xứng hợp với những tông đồ tương lai, người ta còn dạy hầu hết các khoa học quen dạy trong chương trình trung học, lại thêm chữ nho và văn chương Việt – Nam Sử Ký và ca nhạc. Ở đó học sinh đọc thông thạo tiếng la – tinh trong các thánh Giáo – Phụ, và nhất là viết la – tinh giỏi hơn người Âu châu. Nhưng môn khoa học không phải không được quí trọng. Cha Băc, sau này chịu tử đạo ngày 3 tháng 1 năm 1869, đã được đặt làm Giám Đốc tháng 6 năm 1863, và đã dạy toán học một cách tài khéo trong nhiều năm. Người soạn bằng tiếng Việt Nam những sách rất tốt về toán – pháp, về đại số và hình học. Cha Chiêu sau này làm Giám Mục Bắc – Kỳ, năm 1854 đã thiết lập ở Kẻ Vĩnh một máy in theo lối Âu – tây, để in nhiều sách, mà trước kia vẫn phải chịu khó viết tay.

Nhiệt tình của các vị giáo sư đối với việc nghiên cứu và những tiến bộ của khoa học thực nghiệm, đặc biệt là khoa thiên văn và vật – lý – học, đã làm cho nhà trường và Nhà Chung phải chải một nguy cơ loạn mới, giữa những dân tộc ngoại giáo và mê tín dị đoan. Việc nhà trường có phòng vật – lý – học và có những dụng cụ quan sát thiên văn, như quả cầu, pin, v.v. đã sinh ra những câu chuỵên lố bịch mà các kẻ thù ghét đạo đã khéo léo khai thác; người ta coi nhà trường như một công binh xưởng, chữa các khí giới đủ loại, có cả cái máy phát sinh ra chớp ra sấm sét: cái đó là nguy cơ trực tiếp cho quốc gia.

Phaolô Bột được phúc gặp ở Vĩnh Trị những thày dạy vừa thông thái vừa đạo đức, đã để cho học sinh và Giáo – đoàn Bắc – Kỳ gương sáng lớn lao sự trung thành cho đến chết. Cuộc tập luyện đó càng có ích cho Phaolô Bột, mà việc cậu đến Vĩnh Trị trùng với lúc cuộc bắt đạo tăng ra và có một sắc chỉ trục xuất toàn bộ (sắc chỉ 18 – 9 – 1855). Tự Đức hy vọng may mắn hơn cha mình là Thiệu Trị, và ông mình là Minh – Mạng. Đầu Linh mục người âu treo giải thưởng là 300 lạng bạc. Những quan chức có đạo hạn trong một tháng phải bỏ đạo; binh lính và dân chúng thì hạn trong 6 tháng.

Cha Giám – đốc chủng viện Bắc – kỳ lúc đó là cha đáng kính Phaolô Tịnh, đã xưng đạo một lần rồi. Không bao lâu người sẽ bị tống ngục lần nữa vào ngày 27 tháng 2 năm 1857 và chịu tử đạo mấy tuần sau vào đầu tháng tư. Chính người đã thay thế cha Bắc, cha này đã thôi việc day học để làm tông đồ nơi giáo dân và sẽ chia sẻ vinh quang phúc tử đạo với người.

Cha Phaolô Tịnh không phải là người tầm thường và sự chết của người chỉ là sự chết xứng đáng của đời sống người. Chính Đức Cha Liêu đã tiết lộ với chúng tôi là những nhân đức của người Kitô – hữu, rồi của một thày giảng, một linh mục như Cha Tịnh đã làm Đức Cha đầy tin tưởng. Đức Cha kể rằng: “Đó là một người có nhiều tài ba, nhiều năng khiếu về khoa học Giáo – hội. Người sinh ở làng Trinh Hà, tỉnh Thanh Hoá. Sau khi đã học xong một cách thành công chương trình latinh, người bị thúc đẩy bởi lòng ước muốn bắt chước các thánh tu rừng. Vì thế, dù còn trẻ, người chốn khỏi nhà Đức Chúa Trời, và ẩn mình nơi thanh vắng, sống bằng rễ cây và quả dại trong rừng. Người sống cuộc đời chiêm linh đó cho tới ngày nọ, người từ rừng núi về xưng tội với cha Nhân, thì người bị buộc phải trở về chủng viện, nếu không thì không được chịu phép giải tội. Sau khi đã theo học lớp thần học, người chịu phép cắt tóc đời Đức Cha Du. Chính người đã dạy tiếng Việt – nam cho Cha Quyên, người bạn đồng hành với tôi. Đức Cha Du ước ao đem phúc âm sang nước Lào, nên giao cho người việc đi tìm đường lối và nghiên cứu tính tình những người dân nước đó. Khi người từ cuộc viễn du đó trở về (vào năm 1838), Đức Cha Du vừa qua đời, và tất cả Nhà Chung, bị đảo lộn do cuộc bắt đạo ác liệt nhất, chỉ còn là một đống hoang tàn. Chính tôi, lúc đó còn trẻ tuổi và ít kinh nghiệm, phải đảm nhiệm việc kiến thiết lại những hoang tàn đó và xây dựng lại Giêrusalem Việt – nam. Lúc đó không thể nghĩ đến xứ Lào và theo đuổi ý tưởng của vị tiền nhân tôi. Năm 1840, tôi lại chọn thầy Tịnh để theo tôi trong cuộc hành trình sang Manila để chịu tấn phong, nhưng người lại sang Macao mà không có tôi. Người trờ về năm 1841, đưa theo một nhà truyền giáo mới, cha Tâm.

“Thời kỳ đó đánh dấu những cuộc chiến đấu lớn của người vì Đức Tin. Bị bắt và nộp cho các quan trong ngày người giảng ở một làng nhỏ ngoại giáo, người bị giam tù gần bảy năm, chân và cổ đeo xiềng. Trong thời gian bị giam giữ lâu dài và khổ cực đó, người đã tỏ ra cứng cáp và khôn ngoan lạ lùng. Người đáp lại tất cả những câu hỏi của quan toà với sự sáng suốt làm họ kinh ngạc. Bẩy lần người bị kết án tử hình vì đạo, nhưng lần nào cũng án treo. Sau cùng người được chịu xử, thì năm 1848, nhà vua lại đổi án tử hình thành án biệt xứ. Trong lúc người bị lưu đầy, thì Thiệu Trị chết, và con ông là Tự Đức lên kế vị, như một hồng ân của một ngày lên ngôi, vua ban đại xá cho các tù nhân không bị án tử hình. Thày Tịnh được vào hạng ân xá và trở về với chúng tôi cuối năm 1848, vinh quang hiển thăng. Thế là tôi truyền chức Linh mục cho người sau khi đã truyền các chức khác trong những khoảng thời gian khá gần nhau. Năm sau vào năm 1850, tôi đặt người làm Giám – đốc trung học Vĩnh Trị của chúng tôi và làm giáo sư Lớp Đệ Nhất chuyên dạy la – tinh. Người giữ chức đó với sự tận tuỵ gương mẫu cho tới ngày người bị bắt.”

Phaolô học lớp Đệ Bát, do một thày giảng, thày Augustinô Diễm, giảng dạy; thày này cũng sẽ chịu chết vì đạo. Phaolô càng kính mến thày bao nhiêu, thì thày càng tỏ lòng yêu quí học sinh của mình, và cố gắng mọi cách cho lớp học được vui vẻ, biến cộng đồng nhỏ bé thành một gia đình, trong đó cố nhiên chiếm hàng đầu là người em út của vị giáo sư, Matcô Hảo, sau nay cũng theo người anh cả trên con đường tử đạo.

Dưới sự điều khiển của vị Giám – đốc nhiệt thành và vị giáo sư tận tâm đó, người chủng sinh đó tấn tới trong sự học hành, nhất là nhân đức và lòng sốt sáng. Tính khí nhu mì, nhũn nhặn, vui vẻ, hoạt bát làm cho mọi anh em bạn yêu mến. Sự ân cần, tính rộng rãi của cậu giúp duy trì những tâm tình tốt lành đó. Vì, hễ thấy một người anh em bạn đau yếu hay mệt nhọc, cậu hêt lòng săn sóc, nâng đỡ hết sức mình, và nhận làm thay tất cả những công việc, sứ vụ mà người bạn đó phải đảm nhiệm. Cậu tập nhất là nhân đức vâng lời, với sự bỏ mình hoàn toàn, tỏ lòng rất tôn kính không những với các bề trên mà cả với những người hơn tuổi mình.

Lòng đạo đức của cậu cũng tiến song song, làm đượm thêm sự vâng lời, chăm chỉ, và các nhân đức cậu tập với tinh thần đầy lòng tin.

Thời kỳ Phaolô lưu học ở tiểu chủng viện, làng Kẻ Vĩnh luôn sống trong cảnh nơm nớp lo sợ vì đe doạ và tiếng đồn bắt đạo. Những tháng đầu năm 1855, đã ban bố một sắc chỉ mới, treo giải bắt các vị truyền giáo và các Linh mục bản xứ. Giải thưởng mười nén bạc. sắc chỉ đó cũng để phạt nặng nề hết mọi kitô – hữu và đặc biệt hơn là người nhà Đức Chúa Trời. Những đe doạ đó không phải là không thi hành, vì ngày 27 tháng 4 năm 1856, cha Hương bị xử tại Nam – Định và ngày 8 tháng 6 cuối năm đó, cha Giuse, thuộc dòng thánh Đominicô, bị xử ở Vị – Hoàng (Nam – Định). Nhiều người kitô – hữu bị phát vãng.

Dù có những nguy cơ và đe doạ đó, cũng năm 1856, Đức Cha Liêu, thường ở Kẻ – Vĩnh nhất, loan báo có cuộc Đại – Phúc cho hết mọi giáo hữu Kẻ – Vĩnh. Các học sinh chủng viện cần phải tham dự. Đức Cha được một hàng giáo sĩ đông đúc phụ giúp đã long trọng khai mạc kỳ Đại – phúc đó, mà mỗi ngày có giảng bốn lần, không kể những bài sách đọc, những bài suy ngắm. Người tham dự đông đến nỗi phải thiết lập đến mười bốn toà giải tội. Cuộc cấm phong kết thúc bằng Lễ Truyền Chức: một lễ nghi xúc động cảm kích biết bao, làm sống lại những thời buổi kitô – hữu và người chịu chức trong các hang toại – đạo. Cậu nhỏ Phaolô cảm thấy bừng thêm lên những nguyện vọng của mình và say mê một cuộc đua tranh cao cả với những người sẽ đi trước cậu (ít ra cậu nghĩ thế) trong sự nghiệp tông đồ và tử – đạo.

Làng Kẻ – Vĩnh, nơi Đức Cha và các Cha Đoài và Cha Hương đang ở, bị các quan bao vây. Hành động sẩy ra một cách nhanh chóng đến nỗi hai giờ sáng người ta mới biết. Song hai vị thừa sai đã có thể bị lãnh vào một nơi ẩn ở vách kép, và Đức Giám Mục nằm dưới hầm. Chính Đức Cha Liêu thuật lại rằng: “ngày 17 tháng 2 năm 1857, vào khoảng tám giờ sáng, người ta báo tin cho chúng tôi biết Làng Vĩnh Trị, nơi tôi ở với Cha Đoài và Cha Ven, bị các quan bao vây, và đúng thế. Lập tức hai bạn đồng nghiệp của tôi lánh vào một nơi trú ẩn đã sắp đặt trước, giữa hai bức vách và trông như chỉ có một, còn tôi thì chui xuống một cái hầm, hay đúng hơn, một cái hố, như chôn sống ở đó, chỉ có một cái lỗ thông hơi. Vào khoảng hai giờ sau, các quan và lính tráng đã đi, chúng tôi ra khỏi nơi trú ẩn và về Toà Giám Mục mà những người lục xét đã không khám phá ra. Nhưng thương ôi: không phải tất cả đã thoát. Vì chúng tôi biết rằng cha Phaolô Tịnh, giám – đốc chủng viện chúng tôi đã bị bắt. Một trong những học trò của người, ông lý trưởng và ông phó lý cũng bị đeo gông. Bỗng tù nhân bị giải về thành phố Vị – hoàng, thị xã tỉnh Nam – Định. Sau một phiên toà sơ thẩm, ba giáo – dân bị kết án lưu đầy trung thân, còn vị Linh mục thì bị kết án tử hình. ngày 6 tháng 4 sau, người chịu tử đạo ở Vị – Hoàng lúc đó người 67 Tuổi.

Khi ấy Phaolô vào lớp Đệ Bát, theo học để rồi ít lâu sẽ đi chịu thử như các thầy giảng. Nhưng sau cuộc bao vây làng và bắt Cha Bề trên, cậu phải từ biệt trường Vĩnh Trị. Học sinh tản mát ở Ban Phết (gần Bút – Sơn, Phủ – Lý), Kẻ Lường, Roãn, Hoàng Nguyên và Kẻ Báng. May mà kịp. Mấy ngày sau đó, ngày 2 tháng 3 năm 1857, lính tráng mang đủ khí giới, cưỡi trên hai con voi, và có súng thần công, đến vây xứ đạo đó. Cố nhiên họ không giết lát, nhưng viên tri huyện cho triệt hạ mười hai nhà của khu trường, nghĩa là gần một phần ba các nhà của chủng viện.

Phaolô Bột vào nhóm tản cư cuối cùng đến Kẻ Báng; một nửa lớp Đệ Bát tới đó. Vị giáo sư Augustinô Diễm theo học trò mình, trung thành khi sống cũng như sau này khi chết bởi gương tử đạo của người.

Kẻ Báng (tên chính thức ngày trước là Kim – Bảng, và bây giờ là Xuân – Bảng), cũng như Vĩnh trị, ở tỉnh Nam – Định, cách thị xã 12 cây số.

Đó là một họ đạo rất cổ, từ lâu đã là nơi ở của các Dòng Chúa Giêsu. Làng đó là một trong những nơi chính làm chỗ ẩn náu cho các ngày cấm đạo.

Học sinh thày Augustinô được cha xứ Thảo vui vẻ tiếp nhận. Cha đã hiến nơi trú ẩn này cho Đức Cha Liêu để một phần nhà trường đến ở.

Nhưng cuộc bách hại càng tăng, và người ta đã nói đến việc nay mai xử Cha Tịnh, cha bề trên khả kính chủng viện Kẻ – Vĩnh. Kỷ niệm về người vẫn sống trong lòng con cái của người. Còn vị xưng đạo thì không quên những học sinh của mình, và từ chốn ngục thất, người viết cho họ một bức thơ bằng tiếng latinh ý nghĩa thế này:

từ ngày cha lìa xa các con

“PhaoLô Tịnh, trong tù ngụcvà đeo xiềng xích vì Chúa Giêsu kitô,

gửi lời thăm hỏi hết mọi thày và trò chủng Viện Thánh Phêrô chúng ta.”

“Từ ngày Cha bị lìa xa chúng con do sự an bài đặc biệt của Chúa Quan Phòng, thì cha hằng nhớ chúng con trong lòng, và để chứng tỏ điều đó, thì cha quyết định gửi chúng con niềm tâm sự của cha. Chúng con hãy chúc tụng lòng nhân lành Chúa về việc Chúa đã làm nơi cha. Trong một chốc, Chúa đã làm điều đó dù cha hay một người trần nào đã bao giờ nghĩ tới. Hỡi linh hồn tôi, hãy chúc tụng Chúa. Tâm hồn tôi hỷ hoan trong Chúa Đấng cứu độ tôi, vì người đã đoái nhìn tới tôi tớ mọn hèn người. Hãy ngợi khen Chúa vì người tốt lành và lòng lân tuất Người muôn đời. Thế là giờ đây chúng tôi đang trong chiến trường. Chúng tôi rất cần sự hộ giúp của Chúa. Chúng con hãy giúp đỡ cha bằng những lời cầu nguyện sốt sáng chúng con, để Chúa làm chon nơi chúng tôi điều Chúa đã bắt đầu. Chú Lượng bạn đồng liêu với chúng con, khi kể lại cho những người tử đạo sau này những gương sáng anh em mình, dù tạng người chú yếu đuối, cũng đã tỏ ra can đảm trước mặt các quan. Do gương sáng và những lời nói của mình, chú đã giúp rất nhiều để củng cố ông Lý và ông Phó Lý, cùng bị bắt với chúng tôi, để họ sẵn sàng chịu chết chứ không bỏ đạo. Nhưng nếu tinh thần mau kíp, thì chúng con cũng biết rằng xác thịt yếu đuối chừng nào. Vậy hãy cầu nguyện nhiều cho cha và cho họ, để không một ai trong chúng tôi phải sấu hổ thua bại

Ba bạn đồng

ngũ của cha, ngoài việc đao gông, ban đêm còn bị cùm. Phần cha, chỉ phải mang gông. Cái sống tù ngục này thật cực khổ cho tính tự nhiên. Nhà ngục chúng tôi thì tối tăm đến nỗi giữa chưa mà hầu chẳng nhìn thấy

gì. Đã tối tăm, lại còn thêm hôi thối, ruồi muỗi, nóng nực và khói bếp, và chúng con sẽ có một ý tưởng về những khốn nạn của nơi ở buồn sầu này.

“NHƯNG MUÔN ĐỜI TẠ ƠN THIÊN CHÚA, VÌ SỰ THẦM LẶNG BAO QUANH CHA, MÀ CHA CÓ THỂ CẦU NGUYỆN VÀ SUY NGẮM HOÀN TOÀN NHƯ Ý. CHA VUI anh em thân Mến,

sướng tin tưởng rằng không gì có thể phân ly cha khỏi tình yêu Chúa Giêsu Kitô, dù lao tù, dù đói khát, dù gươm giáo, dù sự chết, vì chính Chúa Giêsu Kitô là sự sống cha. Chúng con đừng nghĩ rằng việc vừa sẩy đến cho chúng tôi là tai hoạ và huỷ hoại cho chúng tôi. Không, đó chỉ là sự sửa dạy hữu ích, nay có vẻ đau đớn, nhưng sau này sẽ gây một giá vô biên cho sự vinh hiển.

Xưa kia khi Chúa Giêsu ngủ trên thuyền, và các môn đệ hầu bị đắm, kêu lên cùng Chúa: “Lạy Thầy, cứu chúng tôi, kẻo chúng tôi chết”. Chúa thức dậy, truyền cho gió và biển, và đâu đấy lại im như tờ. Ngày nay cũng thế, Chúa Giêsu xem ra đang ngủ, trong khi khốn khó khuấy động chúng ta, nhưng sự ngủ của Chúa Giêsu không phải là bỏ rơi. Chẳng bao lâu người sẽ thức dậy và biến phiền muộn chúng ta thành vui mừng. Thiên Chúa thì vô cùng khôn ngoan: Chúa cho khổ để thử chúng ta, Chúa đánh để chữa khỏi chúng ta; những vết thương do bàn tay người cha đó là sự cứu rỗi chúng ta. Việc tử đạo bằng máu thì hoạ hiếm, đúng thế, Chúa chỉ ban cho một số ít, hoàn toàn là ơn Chúa và không do công họ chút nào; nhưng tử đạo bằng ước nguyện và yêu mến có thể thuộc về tất cả; phúc đó có thể là phần của người khó khăn, người hoà thuận, người có lòng trong sạch. Kinh thánh nói: “Thành Giêrusalem mới có mười hai cửa”. Nếu chúng con không được phúc qua cửa nhuộm đỏ máy chém, thì các cửa khác rộng mở cho chúng con; tất cả đều qui về một chung tâm, cùng đi tới cùng đích là được Thiên Chúa. Cha nhắc lại, là không phải là ngẫu nhiên mà chúng tôi bị rơi vào tay kẻ dữ, nhưng do sự an bài của Chúa Quan Phòng. Cha hết lòng tạ ơn Chúa, và cha hăng hái cầu xin cho sự vĩnh cửu và thánh thiện của Đức Giám Mục chúng ta, các vị thừa sai và tất cả các Linh mục chúng ta, và cho sự hưng thịnh của Giáo Đoàn Bắc – Kỳ. Xin Chúa gìn giữ và phù trợ các vị đó, và cả chúng con, các bạn yêu dấu của cha, và xin Chúa cho chúng con tấn tới ngày một hơn trong đàng nhân đức. Thực ra cha có thể nói là giờ lìa tan của cha đã gần. Cha đã gìn giữ lòng tin, đã hoàn thành cuộc chạy đua mà cha hy vọng Đấng Phán Xét công minh sẽ ban triều thiên công chính, không những cho cha, mà còn cho tất cả những ai yêu mến ngày đăng quang của Người. Cha viết mấy lời đó lúc sắp chịu tử đạo, để chúng con biết cha yêu quí chúng con biết bao. Chúng con hãy yêu mến nhau, hãy vâng phục các bề trên chúng con, hãy giữ lọn hết mọi lề luật trong nhà: sự trung thành trong những sự nhỏ mọn nhất có thể sắm thiên đàng cho chúng con. Sau khi cha chết rồi, nếu cha có quyền thế gì nơi Chúa, cha hứa với chúng con là chẳng bao giờ quên chúng con. Vĩnh Biệt”.

PHAOLO TỊNH

Linh mục.

Đó là lời di chúc thiêng liêng của vị Giám đốc nhà trường Kẻ – Vĩnh cho con cái tản mát của mình. lời thiên hạ đồn thổi tăng thêm tính cách khích lệ của bức thư tốt đẹp đó, vì người ta kể lại rằng: ở nơi tù ngục PhaoLô Tịnh khuyến khích những đồng bạn của mình, nhất là ông lý và ông phó lý. Các ông bị dỗ dành để về với cha mẹ, vợ con mình, có lẽ bị thua cám dỗ mà bỏ đạo, nếu không có lời khuyên và gương sáng của người đồng hương sốt sáng của họ. Vị Linh mục thánh thiện cũng đã gặp trong nhà lao Vị Hoàng mẫu người tân tòng của địa phận Trung Bắc kỳ đã rên xiết trong ngục từ bảy, tám tháng nay vì đã cứu một Linh mục Việt – nam khỏi tay viên quan đã bắt người. Nhiều người trong những kitô hữu đó, vì bị tra tấn đòn vọt, đã yếu đuối mà quá khoá. Cha Phaolô làm cho họ cảm thấy mạnh mẽ tội cùng gương xấu họ nặng nề chừng nào, cho nên họ lại đến trước mặt các quan tuyên bố rằng họ đã xuất giáo chỉ vì cưỡng ép, và quả quyết lòng ăn năn cùng nhất định thà chết chẳng thà chối Chúa họ đã được khi chịu phép rửa tội. Xong công việc vị Linh mục giải tội cho họ, rồi một trong các đồng nghiệp của Linh mục kiệu Mình Thánh cho họ chịu lễ, đồng thời cho cha Phaolô và ba bạn đồng ngũ của người. Mấy ngày sau, cuộc tử đạo của cha Phaolô là tấm gương tốt đẹp làm rạng rỡ thêm những nhân đức và gương sáng đời sống cao cả của người. Vị vua đã nhanh chóng châu phê án quan tổng đốc Nam – Định đã ra. Còn quan tổng đốc thì giữ bí mật đến nỗi giáo dân chỉ biết việc xử khi thấy vị Linh mục đến nơi pháp trường giữa hai hàng rào lính tráng. Khi chịu chết, người thầy đó còn có dịp tuyên xưng danh Chúa Giêsu kitô người đã giảng dạy cho các đồ đệ trẻ tuổi của mình. Quan thượng gọi riêng người ra, nói với người là con có thể khỏi chết nếu bỏ đạo Chúa Giêsu.

-Bẩm quan lớn, người tử đạo trả lời: “xác tôi trong tay quan lớn, quan lớn muốn làm gì thì tuỳ ý, nhưng hồn tôi thuộc về Đức Chúa Trời. Không gì có thể làm tôi hy sinh cái đó để vừa ý vua. Những tâm hồn tin đạo của tôi không thể lay chuyển, và lòng trung nghĩa của tôi với đạo của Chúa Trời, – Chỉ có đạo đó là thật, – thì sẽ còn mãi bao lâu tôi sống.”

Để chém đầu người, lý hình đã gẫy mất gươm của mình và phải đổi gươm khác chém đến năm nhát. Sự việc đó được quan tổng đốc coi là điềm trời cho biết việc xử án cha thì bất công và chính chiều hôm đó, ông cho cúng lễ để an ủi oan hồn. Đêm đến người ta lấy xác người đem về nhà trường và lặng lẽ mai táng nơi nhà nguyện vừa bị triệt hạ. Nơi đó, ngày nay an nghỉ cùng một hàng ba vị Tử – Đạo chứ danh: cha Hương, cha Laoransô Hưởng và cha Phaolô Tịnh.

Ba ngày sau, các đồng bạn cha Phaolô Tịnh bị đưa đi lưu đầy. Để thêm khổ cực, người ta phân tán họ. ông lý Quí bị đưa đi Thái Nguyên, ông phó lý Chấn đi xa hơn sáu ngày đàng về tỉnh Lạng – Sơn. Người ta bắt chú Lượng đi sáu ngày đàng xa hơn nữa đến tỉnh Cao – Bằng. Chú phải xử cực kỳ hà khắc như thế vì là học trò nhà Đức Chúa Trời, và nhất là vì ảnh hưởng của chú đối với những bạn lưu đày. Lá thư Đức Cha Liêu chuyển cho các đồng bạn của chú ở Kẻ – Vĩnh cho thấy chú phải chịu thật lớn lao, thử thách thật nặng nề. Bức thư viết:

“Bao là nhọc mệt trong cuộc lưu đầy đó; bao là lo âu vì nỗi hưu quạnh; bao là thiếu thốn thiêng liêng giữa những người ngoại: phải, cuộc đi của tôi thì nặng nhọc, nhưng sung sướng, – chú kể lại một cách đơn sơ lạ lùng mấy ngày sau khi đến nơi. Từ Bắc – Ninh, chúng tôi bó buộc phải đi qua rừng rậm, trèo những núi non hiểm trở, và lội qua nhiều thác và đồng lầy mà nước thì hôi thối, lạnh giá, rất độc. Chúng tôi đã vượt qua 217 ngọn đồi và 11 núi khá cao hơn và khó khăn hơn; lại nữa, chúng tôi đã lội qua 282 sông ngòi, có 13 con sông khá to. Dân cư tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn không phải người kinh, đó là những người Thổ, Mán, Mường. Cũng có nhiều người Trung Hoa. Chúng tôi không biết tiếng họ, và họ không hiểu tiếng chúng tôi: điều đó càng làm cho tình cảm khó khăn thêm. Ở Lạng – Sơn có sáu người tân tòng bị lưu đầy, họ có thể an ủi nhau và khuyến khích nhau. Linh mục cũng có thể, không đến nỗi khó lắm, đến thăm họ và làm các phép cho họ mỗi năm một hai lần. Trái lại trong tỉnh Cao – Bằng, tuyệt đối chỉ có mình tôi là biết đạo thật, và tôi không biết có bao giờ được gặp một cha để xưng tội. Sức khoẻ thì bấp bênh, khí hậu thì độc, tôi có thể chết bất cứ  lúc nào và không trợ giúp thiêng liêng. Vậy tôi xin các bạn hãy thương tôi và lo liệu cho phần rỗi tôi, để tôi có thể vâng theo ý Chúa cho đến cùng và can đảm.

“Khi tôi đến tỉnh Lỵ, quan án dụ tôi quá khóa, và vì tôi từ chối, nên ông tức giận và chửi tôi thậm tệ. Tôi thưa với ông rằng: “Nếu vua đòi cái đầu tôi, tôi thà dâng cho vua trăm lần chẳng thà xuất giáo: và giờ đây, tôi đã chịu xử án, và đã bị lên án khổ sai trong một miền hoang vu, sau khi tôi phải vất vả khó nhọc lâu mới tới được, lẽ nào ông lại có thể nghĩ rằng tôi bỏ đạo của tôi được, và trong những giây phút mất những công phúc đã lập được bởi chịu khó vì đạo?”

“Lần khác, quan đó cũng gọi tôi đến nhà ông, và sau khi đã mất công khuyên bảo tôi chối Chúa tôi, ông nói với tôi: “Này cái đạo Chúa Trời là thế nào, và vì những lý do nào mà theo giữ chặt chẽ như thế?”

“Bấy giờ tôi đọc nhiều đoạn giáo lý và tôi thêm vào việc giãi bầy đạo chúng tôi mấy dẫn chứng rằng đạo Chúa là thật. Quan án chú ý nghe tôi nói. Khi ông đã thoả tính hiếu kỳ, ông cho tôi về và nói lời tử tế rằng: “Nếu thế, người về bình an.”

Từ đó ông để mặc tôi.

LƯỢNG: người lưu đày vì đức tin.

Những đồng bạn chú Lượng rất khích lệ khi đọc những câu chuyện xúc động như thế. Tất cả đều quyết tâm vững vàng trung thành với Giáo Hội như thế, và cũng được nên những người xưng đạo và chịu tử đạo theo gương người anh em của mình.

Những gương lành đó càng hợp thời. Vì cơn bách hại mỗi ngày một ác liệt.

C

V

PHAOLO BỘT BỊ BẮT

(23 – 1 – 1858)

Ngày 21 tháng 5 năm 1857, Lễ Chúa Giêsu Lên Trời, Đức Cha An, Giám mục địa phận trung, bị bắt ở Bùi Chu với ba kỳ mục và giải đến Vị – Hoàng. Tháng bảy, người bị xử ở trường bắn nam – Định, và xác bị quăng sông. Sau này giáo hữu lại tìm được xác người. Quan tổng đốc Nam – Định thì dữ tợn. Người ta phải sống trong cảnh luôn luôn phải sợ hãi. Các sách học, những đồ thờ, và tất cả những gì có thể sinh phiền phức, đều phải cất dấu trong một cái hang. Quan tổng đốc hờn ghét người có đạo và đạo Chúa kitô, ông làm những bài ca, bài vè để phỉ báng và phân phát cho dân chúng. Ông bắt những người tù phải chịu những hình khổ độc ác nhất, lúc thì bắt đeo gông ngày đêm không nghỉ ngơi, lúc thì cùm ăn nát cả chân, roi mây cứng như dây da, kìm chín, kìm sống và vết thương thì đau đớn và lâu khỏi chừng nào, quì trên những cọc sắt cắm vào tấm ván, và tất cả những khổ hình loài người có thể nghĩ ra.

Năm 1857 qua đi trong lo âu. Các quan tỉnh Nam – Định biết rằng Kẻ Báng là nơi chú ẩn của những vị truyền giáo và chủng sinh, họ lập kế hoạch để xông vào cái mồi béo bở như thế. Những người thân với các vị truyền giáo rình xem cử chỉ của kẻ thù, báo cho các ngài biết người ta quyết định vây Kẻ Báng. Nhiều lần cha Thảo đã phải chốn ra đồng ban đêm với các chú và học sinh trong đó có cậu Phaolô Bột. Nhưng đó chỉ là những báo động sai.

Các kitô hữu vừa yên dạ, thì một đêm kia vào ngày 22 hay 23 tháng Giêng 1858, trong lúc yên lặng tối tăm, viên lãnh binh tỉnh Nam – Định dẫn đầu bẩy chăm lính đến vây làng. Ông ta tính chắc là không thoát một kitô hữu nào, và tóm được các vị truyền giáo và các họ sinh nhà Đức Chúa Trời; vì trông mặt họ hay chỉ xem tay họ thì nhận được ngay. Các quan bắt đạo vẫn theo kiểu đó luôn.

Công việc được tuyệt đối giữ bí mật, và những người có đạo chỉ nhận thấy người bao vây khi làng đã bị hoàn toàn bịt kín. Chúng đến án các ngả, rồi chúng đốt những đống lửa lên, không phải để sưởi mà để soi sáng cánh đồng và ngăn những người nhờ lúc đêm tối mà chạy thoát chăng.

Người dân chúng ta quen dùng mưu trí chống mưu trí, và chiến đấu một cách tài tình đến nỗi dù bị bao vây bất ngờ và bọn lính cẩn mật, thì cha Thảo và cha phó là cha Tri, thầy Augustinô Diễm các chú và hầu hết các chủng sinh thoát được cả. Chẳng may Phaolô Bột và ba người đồng bạn là Pháp, Hưởng, Tuấn, không làm thế nào mà lọt ra được, đành phải quay lại Kẻ Báng.

Rạng sáng, các quan cho nổi trống, truyền hết các người đàn ông phải ra khỏi làng và đến trình diện các quan. Đến lượt bốn chủng sinh, họ dễ nhận biết học sinh nhà Đức Chúa Trời, vì nét mặt các cậu và những bàn tay trắng.

Các quan căm thù các chú, vì các người khác đã biến mất, và lập tức đóng gông nặng. Họ còn bắt mười sáu viên kỳ mục, trong đó có ông trùm xứ, tên là Chấn. Các người khác thì thoát đựơc cả, trong lúc bọn lính lo cướp bóc xứ đạo hơn là kiểm soát người có đạo.

Khi thu quân và điệu được các tù về thì đã muộn.

Hôm sau ngày 24 tháng 1 năm 1858 các quan đến Nam Định, giải hai mươi mốt người tù và một kết quả nhỏ nhoi, trừ hai cỗ kiêu Đức Bà họ cho thiêu tại chỗ.

Các kỳ mục và các chú đều bị tống vào cùng một nhà lao, và họ khuyến khích nhau chịu khó, chứ không phản giáo, và đọc kinh nhiều để xin ơn Chúa hộ giúp cho cơn thử thách kinh khủng này.

VI

CUỘC TRA TẤN

(25 – 1 – 1858)

Hôm sau ngày 25 tháng 1 năm 1858, tất cả các người tù, Phaolô Bột, ba người đồng bạn và các kỳ mục Kẻ Báng, bị điều ra công đường, chủ toạ là viên tổng đốc khét tiếng Nam – Định, ông thượng Hưng.

Một thập giá được đặt nằm trước mặt các quan. Những kitô hữu biết trước loại thử thách họ sẽ phải chịu. Khi họ vừa chào quan theo thủ tục, viên tổng đốc đưa ra việc lựa chọn tiếng tăm là: “Quá khoá thì ta sẽ cho về”, hiểu ngầm: “nếu không quá khoá thì bị đày cho chết”.

Ông trùm Chấn, giữ địa vị nhất trong xứ, thưa lại thay mọi người rằng: “Bẩm quan lớn, tôi được hân hạnh đựơc trình quan lớn là chúng tôi có đạo, và chúng tôi không quá khóa.”

Nghe lời ông nói đanh thép và lớn tiếng, viên tổng đốc bị mất mặt trước các đồng nghiệp, nổi giận đùng đùng, và không thêm nửa lời, cho ông thầy roi mây nhập cuộc, xem có thắng các người xưng đạo trẻ trung đó dễ dàng hơn là ông ta chăng. Ông truyền căng nọc các tù nhân. Bọn lính hầu nhất tề tuân lệnh, và bắt các nạn nhân nằm sấp xuống, hai tay chói vào cọc cắm xuống đất, và giật thật mạnh một cái để căng xác ra, chúng buộc hai chân vào một cái cọc khác. Việc căng thẳng cực kỳ như thế đã là một khổ hình độc dữ, vì do đó các khớp xương giãn ra, khiến cho đau đớn không thể chịu nổi.

Hình khổ đó dù là khổ cực đến đâu, cũng chỉ là khai mào những khổ hình còn độc dữ hơn, do những roi quất liên hồi. Thầy roi mây xử dụng. Roi mây là một thứ roi đầu trẻ ra, rồi lấy dây quấn lại và gắn bằng sơn. Làm thế, roi cứng như kim khí. Nên không da thịt nào cưỡng lại được. Những roi dùng để đánh lính hay những phạm nhân thường thì nhỏ, nhưng roi chính thức thì đường kính ít ra là một phân. Tài khéo của lý hình lại còn làm tăng thêm tính cách độc dữ của dụng cụ đó. Người nước ta tài khéo, nên chỉ một roi đầu là vọt máu, và đến roi thứ hai hay thứ ba là xẻ thịt ra; cho nên một chục roi là ống chân người bị đòn tuột hết da thịt, và không có người khác nâng dậy thì không còn đứng vững được.

Khi 21 người tù bị căng nọc xuống đất, các lý hình bắt đầu đánh. Khổ hình thật kinh khủng, vì quan đã truyền đánh roi kép, nghĩa là hai lý hình cùng đánh người bị đòn một trật, mỗi tên một bên sau mỗi  roi, lý hình ngừng một tý, để cho da thịt nguội đi, và các khổ nhân cảm thấy tê tái. Các quan lợi dụng lúc ngừng đó để hỏi lại các câu hỏi, và cho những kẻ khổ sở được chọn đòn vọt hay chối đạo. Họ nhắc đi nhắc lại: “Quá khoá thì cho về”. Nhưng mỗi lần, các người xưng đạo lại tuyên bố chung thành với Chúa và thà chết chẳng thà bỏ đạo.

Ba mươi roi họ chịu là ba mươi lần họ dụ dỗ chối đạo, và ba mươi lần họ tuyên bố muốn giữ đạo mãi. Họ tưởng cuộc tra tấn thế là xong, vì luật chỉ cho phép đánh 30 roi mỗi ngày. Nhưng thượng Hưng hung dữ chẳng đến xỉa đến luật pháp cho bằng thoả tính hung dữ hờn gét. Đàng khác, chắc chắn rằng: một quan toà xử với người có đạo thế nào cũng được, chẳng tội tình gì, cho nên ông cho kéo dài khổ hình ngoài giới hạn luật pháp ấn định, và cho đánh những người khổ sở không những 30 roi theo hạn lệ, mà là 50 roi kép, tức là bằng 100 roi. Bọn lý hình, được ông thầy độc dữ thôi thúc, ra sức thi hành cẩn thận mệnh lệnh buồn thảm đó. Máu ở những vết thương của các người xưng đạo chảy ra lênh láng, đến nỗi quần áo đầm đìa và lai láng trên đất.

Song tính điên cuồng của thượng Hưng dữ tợn chưa nguôi. Tra tấn bằng đòn vọt cũng chưa cho là đủ và máu chảy vẫn chưa làm ông nguôi giận. Ông truyền áp dụng cho các người xưng đạo ba kìm sống và ba kìm chín. Thử tưởng tượng hai khổ hình đó cực khổ như thế nào, đến nỗi không biết lấy thứ nào làm hơn, vì nếu kìm nung tuy bớt đau hơn, nhưng sau đó vêt thương nguy hiểm hơn và lâu khỏi hơn.

Sự tàn ác của tên tay sai hoả ngục, thương ôi! Lại thăng sự yếu đuối của những người lớn và những trẻ nhỏ nó đã tấn công mãnh liệt đến thế.

Ông trùm Chấn và những kỳ mục có đạo, bị bại vì những đau đớn độc dữ họ vừa chịu, và lo lắng về những đau đớn họ sợ sẽ thấy tái diễn, nên họ hàng phục trước những lời trách mắng của quan, và quá khóa.

Phaolô bột đau đớn nhìn thấy 17 người xưng đạo nay chối đạo, nhất là ông trùm Chấn, một người mà những lời nói cũng như gương sáng đã khuyến khích và nâng đỡ cậu cho tới nay. Ba người đồng bạn, và chính cậu đồng thời cảm thấy tất cả những lôi cuốn của gương xấu. Khi thấy những người kitô hữu Kẻ – Báng ra về, các cậu nhớ đến gia đình, sự được tha, sự an thân, được sống, nếu các cậu bằng lòng làm như các anh cả việc họ vừa làm. Thương ôi! Những khuynh hướng sấu xa ăn sâu vào một linh hồn đã bị sa đoạ, nên chỉ nhìn thấy sự yếu đuối của kẻ khác, cũng uốn chúng ta dễ đầu hàng như thế.

Song le, ông trùm Chấn, lương tâm cắn rứt, lập tức sửa lỗi cùng gương xấu của mình, vì vừa dẫm chân lên Thập Giá, ông liền quay lại viên quan nói rằng: “Đạo tại tâm, và lòng chúng tôi không thể chối đạo được”. Nghe lời phân phô đó, quan thượng lại nổi cơn lôi đình, kêu lên: “Tên này chỉ bỏ đạo bề ngoài, nhưng thâm tâm không chối đạo”, và ông kết án phát lưu. Ông Chấn bị đày lên Lạng Sơn, ông qua đời ở đó ngày 20 tháng 10, được mọi người coi như là đã xưng đạo, và thế là phải.

Ít ra còn bốn học sinh nhà Đức Chúa Trời không xiêu ngã. Dù tất cả đe doạ, và tất cả những lời dụ dỗ đường mật của các quan, các chú đã thắng trong cuộc thử thách đầu tiên này, và đã từ chối không quá khoá. Lòng tin của họ sáng suốt hơn cho thấy rõ tính cách nặng nề việc chối đạo công khai như thế, và tư cách học trò nhà Đức Chúa Trời cũng là một thứ thể diện bắt các chú phải trung thành với Chúa và thầy mình.

Phần các quan, mạnh dạn lên hơn vì thành công thứ nhất, nên muốn một cuộc đắc thắng hoàn toàn, và nhất là họ có thể hãnh diện vì thắng được các học sinh nhà Đức Chúa Trời. Song le, hiểu rằng họ không thể bắt các chú dẫm lên Thập Giá, nên truyền cho lý hình túm lấy họ, và lôi kéo trên Thập Giá để có thể nói, viết, và tuyên bố rằng các học sinh nhà Đức Chúa Trời đã bước qua Thập Giá.

Bọn lính lệ trước hết sông vào cậu Pháp: sự cưỡng lại can đảm và lòng kiên tâm anh dũng của cậu là một lời khuyến khích mới và một ơn cuối cùng cho người đồng bạn Phaolô Bột. Trong khi bọn lính khiêng lên Thập Giá, người trai trẻ tận dụng những sức còn lại sau cuộc đòn đánh và kìm cặp, co chân lên và cưỡng lại mạnh mẽ đến nỗi không thể chạm vào Cây Giá được. Viên quan vừa muốn phạt cậu, đồng thời ra oai với các đồng bạn cậu cho khiếp sợ, lập tức truyền kẹp kìm nung đỏ ba lần. Cậu Pháp, tạng người mảnh dẻ, hoá bất tỉnh, nhưng tâm hồn không suy yếu, và khi tỉnh lại, dù đau đớn vì các khổ hình đó, luôn miệng phân trần: “Bẩm quan lớn, việc quan lớn làm mặc quan lớn, nhưng xin quan lớn biết cho rằng tôi không bằng lòng quá khoá đâu”.

Tên bạo chúa độc dữ đó chưa cho những cách tra tấn thông thường làm thoả, còn đẩy xa thêm cuộc khổ hình và thử thách, vì theo lời Đức Cha Khiêm làm chứng thuật lại trong nhật ký của người thì cậu Pháp, sau khi bị đòn đánh và kìm kẹp, lại phải quì lên những mũi đinh cắm vào bàn gỗ. Dù bị tra tấn ác liệt như thế, Phaolô Pháp, trung thành với ơn thiên triệu và ơn nghĩa Chúa, cứ mỗi khổ hình, cậu lại thưa: “Tôi không quá khoá”. Quan toà bị thua, kết án người xưng đạo anh dũng đó phải đi đầy. Cậu bị đưa đi với ông trùm Chấn lên Lạng – Sơn, ở đó Chúa an ủi cậu, cho cậu qua đời trong tay người Anh cậu: Cụ Sáu.

Quang cảnh một gương cam đảm cao cả như thế, sem ra đáng phải gây một sức mạnh vững vàng, khí phách anh hùng thư thế cho ba người đồng bạn mới phải, – những người cũng đã phải chịu giằng nọc như cậu, chịu đòn vọt và kìm sống kìm chín như cậu. Ông thượng Hưng tưởng chắc sẽ gặp một sự bất khẳng như thế. Nhưng muốn tận dụng mọi cố gắng để dụ dỗ, ông truyền khiêng trên Thập Giá ba người đồng bạn kia: Bột, Hưởng, Tuấn. Thương ôi! Lần này tai ác, vì kéo dài, lại đã thắng sự lành. Hoặc vì yếu đuối, hoặc vì ảo tưởng, hoặc vì kinh khiếp do những đau khổ và án cậu pháp, ba người trai trẻ đó để cho khiêng trên Thập Giá. Chắc là trong lòng họ chê ghét cử chỉ bội giáo người ta bắt các cậu làm, nhưng các cậu không còn sáng suốt, không còn can đảm để nói lên một lời phân phô. Họ được coi là đã chối đạo, được liệt kê vào những người xuất giáo.

Ông Hưng chẳng cần gì hơn. Tự phụ vì đã đắc thắng; lập tức ông cho ghi ba chủng sinh vào sổ những người đã quá khóa, và truyền tha cho họ. Hưởng trở về quê, còn Phaolô Bột lại trở về Kẻ – Báng.

VII

ÁY NÁY VÀ LO ÂU

SỰ TIẾP ĐÓN CỦA CÁC THẦY DẠY CŨ

(Cuối tháng Sáu 1858)

Phản bội: Xuất giáo: Bội giáo: Những tiếng đó có lẽ quá nặng nề khi áp dụng cho một cậu bé, vì lòng kính mến Chúa mình, đã từ chối mãi không chịu bước qua Thập Giá, đã chịu đòn vọt vì Người , đã chịu kìm sống kìm chín, và rồi trong một lúc yếu đuối hay khiếp kinh, đã để cho lôi kéo trên Thập Tự. Nhiều người cảm thấy thương xót cậu hơn là sự phẫn nộ, và để mặc Chúa xét đoán, Chúa là Đấng dò xét lương tâm và đo lường tâm can con người. Trái lại, ta hãy để tất cả phẫn nộ cho những quan lại kiêu căng, cho những lý hình độc dữ, không lấy sự truy nã chân lý và nhân đức làm đủ, lạm dụng sức mạnh của mình, và sự yếu đuối của một đứa trẻ đã mòn mỏi vì đau khổ mà lôi cậu lúc rã rời, trên ảnh Chúa kitô, mà cậu đã không chịu chối bỏ, Đấng cậu thờ lạy trong lòng, và có lẽ cậu muốn hôn kính nét mặt cao sang Đấng đó trước mặt mọi người. Tội ác và nhơ nhuốc là thuộc về bọn họ.

Song le, lòng thương sót âu yếm ta cảm thấy đối với em bé đó, một trẻ sớm có nhân đức và sự xưng đạo cách anh hùng đã chiếm được tất cả mối thịnh tình chúng ta, cũng không ngăn chúng ta chê trách cử chỉ yếu đuối đó suýt nữa nguy hại đến vinh quang và sự rỗi của em. Chắc chắn là cậu đã không làm một việc bội giáo, cậu đã không nói một lời phản phúc. Nhưng cậu đã phạm tội vì Thiếu Sót,không cưỡng lại khi người ta bắt đầu bước lên Cây Giá, và nhất là không phản đối việc ghi tên mình vào sổ những người bội – giáo. Trong hoàn cảnh hiên tại, sự yếu đuối đó mang tính cách một gương xấu càng vang động, khi người ta càng hy vọng hơn vào một cậu bé nhà Đức Chúa Trời, từ ban đầu đã tỏ ra cho tâm hồn cao cả. Những người ngoại đắc thắng, người kitô hữu thì xấu hổ nhục nhã, và những người theo sau, những người xưng đạo đầu tiên đó, khi phải chọn giữa sự sống và quá khoá, sẽ thấy ở cách ăn ở của Phaolô một gương mù tai hại hay vì một sự khích lệ quí giá.

Chính Phaolô cũng phán đoán như thế, và cậu nghe bên tai lời nguyền rủa mà cậu đang phải vác nặng: “Khốn cho thế gian vì những gương xấu đó, – khốn cho người làm gương xấu.” Đức trẻ khốn nạn hiểu và cảm thấy tất cả tính cách nặng nề tội mình. Cậu đau đớn nhắc đi nhắc lại: “Tôi đã phản bội Chúa tôi, Chúa tốt lành.” Sao cậu không được can đảm như câu Pháp, một người ít ra đã trung thành với những lời khuyên nhủ các Linh mục và với lòng tin Đức Chúa Trời: sao cậu không cưỡng lại và phản kháng bằng cử chỉ, bằng tiếng kêu chống lại sự bội giáo người ta bắt cậu làm: tại sao, ít ra cậu không sửa lại sự lỗi của mình bằng cách phản kháng lớn tiếng, như ông trùm Chấn, là mình vẫn giữ tận đáy lòng sự yêu mến Chúa Giêsu kitô:

Cậu nói với cậu Tuấn, người đồng bạn của cậu đã tỏ ra sau này rằng: “Anh bạn ơi: Chúng ta yếu đuối sa ngã; phải tìm ngay một Linh mục để giải tội cho chúng ta”. Sự quyết tâm theo sau những lời hối hận chân thành đó. Vì cả hai, bước đi, ngẫu nhiên và xấu hổ, đau đớn trong tâm hồn hơn là nơi thể xác, mà những vết thương tỏ cho mọi người thấy họ là những người xưng đạo mà bất trung. Thương ôi! Những vết thương kia chính ra là vinh quang, bởi đã chịu vì Chúa Giêsu Kitô, những vết thương đó trở lên cho hai cậu một thương tích nhục nhã tố cáo họ trước sự khinh bỉ của mọi người. Những người ngoại nhìn họ qua lại một cách khinh bỉ, vì dù sao, họ đã là và đã xưng mình là môn đệ Chúa Giêsu Kitô; mặt khác những kitô hữu thấy họ được tự do, không phải thứ tự do vinh hiển của Chúa Kitô mà những người kitô hữu vẫn có dù đang mang xiềng xích; đây là thứ từ do mà đã mua bằng danh dự, bằng Đức Tin; họ thấy những người này là kẻ có tội, là những tên bội giáo.

Từ giã Nam – Định, những đứa trẻ khốn nạn đi về Kẻ – Báng. Họ hy vọng được tiếp nhận với lòng thương xót yêu thương bởi thầy Augustinô Diễm, cha xứ và cả những đồng bạn của họ, những người chưa được chia sẻ thử thách đó. Cố nhiên tất cả đều có những tâm tình của người cha đối với đứa con hoang đàng khi nghe tiếng kêu cầu của họ: “Lạy cha, lay Thầy, chúng con đã phạm đến Trời, và đến Cha, đến Thầy, chúng con không đáng được kể vào số những con cái của nhà Đức Chúa Trời, nhưng ít ra xin cho chúng con như những người làm thuê và cho chúng con được làm lụng và ăn năn đền tội để bù lại tội chúng con.

Thật họ có tất cả những vẻ ngoài như đứa con hoang đàng. Nguyên điệu bộ của họ có thể làm súc động lòng người và mủi lòng thương xót. Áo quần tả tơi, đầy máu me. Quần áo Phaolô đặc những máu và cứng như mo cau. Mỗi bước đi lại khêu những vết roi đánh kìm cặp cho thêm to ra. Đi đứng vất vả, tỏ ra đau đớn lắm.

Với tình trạng thảm thương đó mà Phaolô Bột và người bạn đến kẻ – Báng, thân thể tan nát, Lòng đau đớn, áy náy tự hỏi không biết các thầy sẽ dành một sự tiếp đãi thế nào cho những học trò phản giáo nhưng hối hận.

Thương ôi! Sự tiếp đón đó còn phải làm tăng thêm sự đau đớn của họ, vì phải làm cho họ hiểu cách mãnh liệt hơn nữa tất cả cái nặng nề một tội, một gương xấu làm cho những người bạn tốt nhất và những thầy dạy hay tha thứ nhất cũng phải nghi ngờ.

Khi lính đến vây làng Kẻ – Báng, ngày 23 tháng giêng 1858, đã rút đi, mang theo những kỳ hào mà bốn học sinh nhà Đức Chúa Trời, thì cha Thảo chính xứ Kẻ – Báng và các kitô hữu của cha, thầy Augustinô Diễm và các học trò của thầy trở về làng để tiếp tục làm việc và học hành.

Họ chú ý theo rõi cuộc chiến đấu của các anh em mình ở Nam – Định: Họ hoan nghênh việc xưng đạo cách can đảm, thế rồi họ buồn phiền về sự bội giáo của mười sáu kỳ hào, và đặc biệt là ba học sinh nhà Đức Chúa Trời. Cái tin buồn thảm đó lan ra rất nhanh, và sự đau đớn của các cha, các thầy và các chủng sinh, vừa mới giảm đi do lòng vững vàng của cậu Pháp, và sự xưng đạo can trường của ngươi trùm anh dũng, ông trùm Chấn.

Người ta hiểu được Phaolô Bột và Phaolô Tuấn đã được tiếp đón với sự thận trọng ngờ vực trừng nào. Cố nhiên Cha Thảo và thầy Diễm cảm thấy thương xót những đứa trẻ khốn nạn đó, các ngài hiểu thế nào là lúc yếu đuối và vui lòng giáng cánh tay người Cha và nói lên lời tha thứ; nhưng các ngài còn phải nghĩ đến học sinh khác, các giáo hữu khác, ngay chiều hôm đó, có thể bị gọi ra để tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô, và các ngài phải gây cho họ một lòng gớm ghét tội, tội xuất giáo: cái đó không dung hoà được với tấm thịnh tình tỏ ra với kẻ bội giáo.

Thầy giáo cũ và cha xứ tốt lành không cần giảng giải nhiều lời mới làm cho PhaoLô hiểu tội mình to lớn. Chính cậu không ngừng thú tội ra và khóc lóc, như mấy người đồng bạn đã thấy, làm chứng. Đối với sự thận trọng và nghiêm khắc đó, còn có một lý do khác. Những kẻ đã phản bội một lần, có thể lại phản bội, và tỏ cho người ngoại những bí mật của nhà chung hay tên tuổi người kitô – hữu. Cho nên người ta có quyền ngờ vực họ. Lại không thấy ngay những người có đạo và bội giáo làm người do thám, làm mật thám cho các quan đấy ư?

Cha xứ Kẻ Báng bảo những người đào ngũ là cứ theo con đường của mình, và nhà Đức Chúa Trời không nhận cho họ ở.

Đó là một thất vọng kinh khủng đối với Phaolô khổ sở, khi thấy ánh sáng, cuối cùng lòng hy sinh tan đi, và nghe tiếng nói thê giá của các thày mình thêm vào bản án lương tâm cậu để nói lại với cậu: “Ngươi đã phản bội Chúa ngươi, ngươi là một tên phản giáo”. Khổ cực cho cậu phải từ biệt như một tên biệt xứ, những nơi cậu  sống lúc còn nhỏ, những đồng bạn đáng mến biết bao, những thày dậy đáng kính kia. Song cậu đã không thất vọng, và đi ngược lại những giai đoạn lúc còn nhỏ tập sự trong nhà Đức Chúa Trời, cùng với người bạn bất hạnh kia, cậu về Kẻ Long, để tìm cha Khương, người trước kia đã nhận cậu vào nhà xứ Sơn Miêng, và chính người đã giới thiệu cậu vào nhà xứ Sơn Miêng, và chính người đã giới thiệu vào chủng viện Kẻ – Vĩnh. Giả xử có về chủng viện, thì cũng bằng thừa, vì các cha đã đi, và hầu hết nhà cửa bị phá huỷ. Nhớ đến mẹ cậu, đến tuổi thơ ngây, đến những cố gắng, và nhờ nước mắt chảy ra, sự ăn năn và hứa chừa, có lẽ cha xứ sẽ tha thứ cho đứa con hoang đàng. Ảo tượng hão huyền: cuộc thử thách đền bù còn phải kéo dài. Cha Khương buồn phiền vì thấy trong sổ những người đã ở nhà xứ lại có một người bội giáo, và sự có mặt của người đó ảnh hưởng đến các học trò nhỏ, mắng cậu một cách nghiêm thẳng: “Mày muốn sống bao lâu thì sống, tao coi như mày đã chết.” Và tiếp sau lời ngắn ngủi đó là một hình phạt, người cấm Phaolô không được ở nhà xứ. Song vì thương xót tình cảnh khốn nạn của cậu, người cho cậu ít tiền để có cái ăn uống may mặc.

Những cuộc thăm lại các nơi đã sống lúc còn chỏ, do tình trạng tương phản, khêu thêm sự đau đớn của đứa trẻ. Những giai đoạn cậu đã qua với sự thơ ngây trong sạch, trong danh dự, vui vẻ và tự do, cậu ôn lại mà xấu hổ, lo âu và ngã lòng. Tại sao cậu đã phản Đức Chúa Trời, Chúa sự bình an, và tình yêu; sao cậu lại phản bội Người? Với những ý nghĩ đó, lòng ước muốn, rồi ý chí đền bù tội mình và sửa lại gương xấu, xuất hiện trong tâm hồn Phaolô.

Sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi đó, cậu nói với người đồng bạn tuấn rằng: “Chúng ta hãy quyết trở lại Nam – Định xưng đạo lần nữa”. và vì người bạn cậu tỏ vẻ do dự hơn, cậu nói tiếp: “Sống chết tôi trở về Nam – Định để rút lại lời bội giáo của tôi trước mặt các quan”.

Người bạn học của cậu, khiếp sợ ý nghĩ đó, từ biệt cậu và quay về quê là làng An – Khoái, tỉnh Phủ lý. Cậu ở đó bẩy, tám năm, sau đó, cha Phước, lúc đó là cha chính địa – phận, nhận thấy sự ăn năn của cậu, và nghe biết sự ăn năn của cậu đã tỏ ra trong thời gian đền tội lâu ngày đó, lại nhận cậu vào nhà Đức Chúa Trời.

Phaolô Bột không giám về ngay nhà mẹ ở Kẻ Lựa. Cậu sợ những lời quở trách của người phụ nữ đảm đang đó, đã chỉ có ý hiến dâng cậu cho nhà Chúa mà cậu vừa phản bội; và rồi, cậu hy vọng còn gặp mấy linh mục nữa, mấy cha thừa sai nữa: hoặc các đấng xúc động trước sự thống hối và khốn nạn của cậu mà cho cậu lại ra nhập nhà Đức Chuá Trời chăng: Với hy vọng đó, cậu lần lượt về trường Kẻ Roãn, trường Hoàng – nguyên, nơi các đồng bạn cậu đến trú ẩn sau cuộc phân tán lần thứ nhất. Cố nhân, bề trên trường Kẻ Roãn, và cố Chiêu bề trên trường Hoàng – nguyên và là cha chính địa – phận không cho cậu vào cổng. Con người bị loại khổ sở đó cố gắng lần cuối cùng về Kẻ Nhàu (Tân độ): một họ đạo gần quê cậu, nhưng cố tân không kém cương quyết các đồng nghiệp của người. Trong lúc cơn bắt bớ kinh khủng đang tiếp tục hoành hành, không ai nghĩ có thể bắt tay với kẻ bội giáo, và tất cả nghĩ rằng phải làm cho người ta ghê gớm hơn hết cái tội đó.

VIII

VỀ BÊN MẸ

(1858)

PhaoLô thấy mọi chỗ nương náu, những nơi cậu tìm thấy nơi tha thứ và bình an, đều đóng cửa không cho cậu vào. cậu chỉ còn một nơi ẩn náu, đó là mái nhà cha và lòng người mẹ. Cậu trở về, cậu nghĩ, có lẽ nơi đó mới bất khả xâm phạm, vì một người mẹ hằng tha thứ cho đứa con hối hận. Bà Maria Mẫn càng hy vọng Phaolô con mình làm vẻ vang danh giá cho mình bao nhiêu, thì khi biết con mình bội phản, càng sửng sốt đau đớn bấy nhiêu. Kìa đứa con mà bà đã tốn bao công khó nhọc vất vả, với một hy vọng độc nhất là được thấy con mình trở nên thầy giảng nhiệt thành, linh mục sốt sáng, và biết đâu vị tử đạo hiển vinh. Kìa đứa con đó, chẳng những không thực hiện những kỳ vọng của mình, nay trở về bị lột cả tước hiệu là người kitô – hữu và mang vết sẹo nhơ nhuốc đứa phản giáo. Sao nó đã quên những lời dậy mà bà hằng nhắc đi nhắc lại, là “sự tội nghìn lần độc giữ hơn sự chết”.

Khi Phaolô bước qua ngưỡng cửa, lòng tin của người nữ – kitô – hữu nén lòng thương xót người phụ nữ và tình yêu người mẹ. Bà kêu lên với một giọng trách móc: “Thà chết vì đạo ở Nam – Định có tốt hơn không là phản Chúa thế này, làm xấu hổ cho đạo của mẹ mày và gia đình mày”. Chúa để bà nói những lời nghiêm khắc đó, để không có một lạc điệu nào trong những lời khuyên nhủ khả dĩ đưa người xưng đạo trở về với nghĩa vụ, với sự  tử đạo, với Chúa.

Cái phần dành cho sự toàn vẹn của đạo và quyền lợi của Thiên Chúa song rồi, bà Mẫn tiệp nhận con mình ở nhà và làm việc với bà.

Đàng khác, chẳng mấy chốc bà hiểu nỗi đau đớn của đứa con đó, lòng cậu ước mong sửa lại lỗi lầm, tinh thần ăn năn thống hối của cậu, nhiệt thành cầu nguyện, nên Phaolô đã thống hối và đã trở lại xứng đáng lòng yêu mến của mẹ mình và lòng thương xót Đức Chúa Trời.

Sự thật và sự công bằng đã có những đại diện của mình, để làm cho kẻ bội giáo hiểu được tất cả cái xấu xa của tội mình. Lòng thương xót và sự bình an cùng cần phải tìm thấy một tiếng nói để thông cảm với nỗi đau đớn của người tội đã biết lên án mình gay gắt như thế và nghĩ đến việc sửa lại lỗi lầm.

Mấy ngày sau khi về nhà, Phaolô đến Phúc Lâm. Bà mata Lịch, một bà sốt sáng đã giúp đỡ cậu về vật chất cũng như lời khuyên bảo khi cậu còn là học trò ở nhà xứ Sơn miêng. Bà chưa hay biết việc con nuôi bà bị bắt; bà cũng không nghĩ tới việc cậu đào ngũ và xuất giáo. Cậu xấu hổ tỏ cho bà biết tội của cậu và thuật lại tất cả những khốn nạn của mình. Phúc thay là việc thú nhận nặng nề đó nhẹ đi do sự dịu dàng Đức Chúa Trời đã đặt trong lòng các bà mẹ nuôi, và sự cảm thông lần này đã sinh ích cho đứa con. Bà an ủi lòng sầu phiền cậu, nhưng không vì thế làm giảm đức tin và nghị lực của cậu. Nhưng ta hãy nhường lời cho chính bà Lịch thuật lại những chi tiết cuộc gặp gỡ cảm động đó.

“Đó là một ngày về mùa đông, trời rét lắm. Tôi đang bận ở bếp, thì thấy một người ăn mặc rách rưới, bước đi lom khom và chống gạy; người đó vào sân nhà tôi, rồi đi thẳng lên nhà trên, cách nhà dưới chỗ tôi đang ở độ 20 thước. Tưởng rằng đây là một người kẻ khó đến nhà, tôi vội vàng chay đến. Người đó đã ngỗi xuống đất, đầu đội một chiếc nón lớn che cả mặt mũi, khiến tôi không nhận ra được. Tôi nhấc nón ra, bấy giờ mới nhận biết người khổ sở trước mặt tội chẳng phải là ai khác, mà là Phaolô Bột, con thiêng liêng tôi.

“Lập tức tôi mời cậu vào trong nhà và ngồi trên phản có giải chiếc chiếu đẹp, và hỏi cậu tai sao lại ra tiều tuỵ thê thảm như thế.”

Cậu khóc lóc thưa rằng: “Thương ôi! Con đã phạm một tội làm con xấu hổ, và con không đáng ngồi trên phản (thời bấy giờ chưa quen dùng bàn ghế). Tôi mời lần nữa. Câu đáp: “không con là người tội lỗi khốn nạn nhất.”

“Tôi sai chị giúp việc thổi cơm chắng và dọn cơn cho phaolô. Cậu kêu lên: “Không, không: cho con một chút cơm thừa vẫn cho chó ăn và một dúm muối. Không bao giờ con giám ngồi cùng với bà như ngày trước, vì con là người tội lỗi khốn nạn”. nói rỗi cậu khóc nức nở.

“Cậu nhận một chút cơm nguội vàng bữa trước còn thừa, với một ít muối. Cậu đổ tất cả vào rá, và muốn ngỗi xổm xuống đất mà ăn, xưng mình không xứng đáng ngồi phản và ăn bằng bát đũa. Mời mãi cậu mới bằng lòng ngồi lên phản trên chiếc chiếu cũ nát. Nhưng khi ăn được mấy miếng, cậu lại gục đầu xuống ngực, và nước mắt lại chảy ra.”

“Tôi lại giục giã cậu cho biết tại sao cậu buồn phiền nhiều như thế. Bấy giờ cậu mới lại kể cho tôi câu chuyện buồn thảm, việc cậu bị bắt ở Kẻ Báng, bị đòn đánh dữ tợn, bị kìm sống kìm chín. Cậu cho tôi xem những vết thương còn loét, ống chân thâm lại xưng lên, tất cả rách nát bởi roi đánh kìm cặp. Cổ chân mắt cá còn tím bầm vì những roi đánh; cuối cùng cậu đã kể cho tôi cậu đã quá khoá thế nào.”

“Tôi hỏi cậu là trong khi bị tra tấn, cậu có thẫm thĩ kêu xin Chúa không. Cậu nói: “Ô; có, con lấy hết sức, nghiến răng lại, và từ đáy lòng, con hằng kêu xin Chúa”. – “Nhưng thế nào chú không vững vàng cho đến cùng?” – Cậu đáp: “Con không muốn quá khoá, đó là bọn lính đã kéo con trên Cây Giá.”

Bà nữ ân – nhân kể tiếp: “Phaolô ngủ đêm tại nhà chúng tôi. Sáng hôm sau anh cả tôi, là ông Lang Huy, đến thăm cậu, và khi vào nhà, ông nói với cậu: “Kính chào chú.” – Cậu đáp lại: “Đừng chào con như thế, con không dám để người ta dùng tiếng “kính” đối với con – Cậu còn ở lại một ngày nữa ở làng, nhưng hầu hết cả ngày, cậu chỉ đọc kinh ở nhà thờ. Hôm sau, cậu trở về nhà mẹ cậu.”

Lời tường thuật của bà Mata Lịch cho chúng ta thấy những tâm tình thống hối khiêm nhường nung nấu đứa trẻ khổ sở đó. Nếu một vài người đã nghĩ phải trách móc cậu và tỏ sự khinh bỉ cậu, thì không ai khinh bỉ cậu, không ai lên án cậu nghiêm khắc hơn là chính cậu. Vừa dám bắt truyện, là cậu xưng mình không đáng nói truyện với người kitô – hữu. Canh cánh lòng nhớ đến tội mình và ước mong đền bù, cậu suy xét cả ngày và kéo dài suy ngắm đến đêm khuya.

Không lấy việc than van khóc lóc làm đủ, cậu ra sức đền tội. Cậu không cần mặc áo thâm, vì những đau đớn về thể xác, và những thống khổ trong tâm hồn đặt cậu vào tình trạng bất an, đến nỗi cuộc sống của cậu là cuộc tử đạo liên miên, đau đớn hơn là đòn đánh ở công đường.

Dù sức yếu và đi lại vất vả, cậu giúp mẹ làm nón, đi đánh điu ở những ruộng xung quanh, và mang hàng của mẹ cùng của kiếm được đi chợ Sơn Miêng; làm thế với lòng ước mong đền tội và ý nghĩ giúp đỡ mẹ mình.

IX

NHỮNG LỜI CHỈ BẢO

CỦA CỤ SÁU

(Tháng Sáu 1858)

Bà Maria Mẫn, nhận thấy những tâm tình tốt đẹp đang nung nấu nơi con mình, thì ra sức xoa dịu những đau đớn về thể xác cậu và chấn tĩnh những lo âu trong lòng cậu; dù với tất cả những săn sóc đó, Phaolô vẫn giữ lối sống khắc khổ của mình. Cậu tự phạt mình chỉ cho ăn ngày một bữa, ăn cơm không; mà lại hầu như ăn mà phàn nàn, và đổ cơm xuống đất, xưng mình không đáng ăn bằng bát.

Song le, Phaolô không tin tưởng vào nguyên sự khôn ngoan của cậu. Do một kinh nghiệm đáng buồn, cậu biết rằng, thương ôi! Cậu không thể tự ăn được, và cậu đi tìm các linh mục để an ủi và dẫn dắt cậu. Nhưng vào cái năm 1858 đó, cuộc bắt bớ hoành hành dữ tợn, và các linh mục chẳng được là bao ở Bắc – Kỳ, hầu hết bó buộc phải ẩn mình kỹ lưỡng. Phaolô trong việc tìm ra các đấng, tỏ mình tài khéo hơn là chính bọn lý hình. mỗi lần cậu biết có linh mục đến miền đó, cậu tìm cách xưng tội, và xin người lấy kinh nghiệm mà soi sáng và làm phúc an ủi.

Không phải lúc nào Phaolô cũng dễ đến với các linh mục, vì việc xuất giáo của cậu làm cho những kitô – hữu nghi ngờ cậu. Song le, những ai biết về sự ăn năn và sự đền tội của cậu, sẵn lòng bảo lãnh lòng tin và sự kín đáo của cậu. Nhờ bà Mata Lịch, mẹ thiêng liêng cậu, cậu có thể ở mấy ngày trong một gia đình ở Phúc Lâm, bên cạnh một linh mục ẩn trốn, xưng tội với người, xem lễ, chịu lễ, và lĩnh những sự an ủi cùng khích lệ cậu rất cần đến.

Cuối tháng tư năm 1858, cậu đi một ngày đàng để đến xưng tội với cha Độ, chính xứ Nách – Lộc, gần Sơn Tây; cậu biết người đang ẩn náu ở một họ đạo nhỏ là Kẻ Dọi, gần Ba – Vì. Cậu tỏ sự đau đớn đến nỗi vị thánh linh – mục động lòng trắc ẩn hết sức, bảo cậu: “Con hãy ăn năn đền tội, Đức Chúa Trời sẽ tha cho con”. Nhưng cậu bé khổ sở luôn luôn coi mình là người khốn nạn nhất. Cha xứ bảo cậu xuống ngồi với các chú và ăn cơm với họ, cậu thưa: “Con đã tỏ ra bội ơn cùng Chúa tốt lành, con không đáng lấy của nhà Đức Chúa Trời mà nuôi con”.

Các linh mục chỉ khuyên cậu xin Đức Chúa Trời tha thứ, làm việc đền tội và sống đạo đức để bù lại gương xấu đã làm. Nhưng cậu bé can trường đó nghĩ rằng làm thế chưa đủ đối với lòng tin, lòng mến của mình, và phải tẩy rửa tội mình trong máu mình. Cậu muốn dâng cho Đức Chúa trời và giáo dân Bắc Viết một bằng chứng đền bù sáng lạng, và thường nhắc lại lời cậu đã nói hôm sau ngày sa ngã rằng: “Chết hay sống tôi sẽ trở lại Nam – Định rút lại lời xuất giáo của tôi trước mặt các quan.” Những linh mục cậu bàn hỏi, dù cảm phục chí khí can trường đó, nhưng không giám khuyên cậu lối đền bù anh hùng này, sợ kẻo sa ngã lần nữa trước thử thách. Chỉ gặp có một người là Cụ Sáu, cảm kích trước những khẳn khoản của người thanh niên và thấu suốt lòng thành thực thống hối, tâm hồn mạnh mẽ của cậu, giám chỉ bảo cậu phương pháp cuối cùng đó, để chuộc lại linh hồn mình bằng cách hiến dâng cho Chúa Giêsu kitô.

Cụ Sáu tên thật gọi là Triêm. Người mang danh hiệu là Thầy Sáu hay Cụ Sáu (sáu chức), vì đã thi hành lâu năm chức vụ đó trước khi lên chức linh mục. Trong cuộc cấm cách sau cùng, Cụ đã chứng tỏ một lòng can đảm mạnh mẽ kết hợp với sự khôn ngoan hiếm có. Là thày giảng trung thành của Đức Cha Khiêm, phó giám – mục của Đức Cha Liêu, nhiều phen thầy đã cứu được Đức Giám – mục của mình khỏi tay bọn đao phủ lùng bắt. Tháng năm 1858, người xưng đạo anh dũng đó ở Lan – mát với Đức Cha Khiêm. Phaolô biết thế, liền đến nơi trú của Đức Cha Phó và Cụ Sáu. Cậu muốn đến với Cụ Sáu vì một lý do đặc biệt: Cụ Sáu là người anh trưởng của người đồng bạn là cậu Pháp, mà cậu đã bỏ lỡ không theo gương anh hùng ngày tra tấn và xưng đạo, và cậu định xin sự tha thứ của người anh về tội đào ngũ và xuất giáo, và để nghe những lời chỉ bảo của một người đầy kinh nghiệm, hầu biết phải quyết định thế nào. Cụ Sáu tiếp đón đứa trẻ thống hối với một lòng lân tuất, nhân từ, và sau cuộc gặp gỡ đầu tiên, Phaolô trở về lòng được an ủi và mạnh sức.

Nhưng Phaolô luôn tự hỏi mình liệu còn có thể trở về nhà Đức Chúa Trời để lấy việc ăn năn đền tội mà sửa lại lỗi mình trước mặt những đồng bạn, hay có lẽ phải dâng cho Giáo Đoàn Bắc Việt một bằng chứng sáng ngời về lòng thống hối, bằng cách phủ nhận công khai ngay trước mặt các quan đã xử án cậu. Cậu nghĩ chỉ mình Đức Cha Liêu có thể giải được những mối hoài nghi của cậu và truyền việc phải làm. Cậu nhắc đi nhắc lại với Cụ Sáu: “Con đã bước qua Cây Giá, con xin cụ chỉ cho con biết Đức cha Liêu ở đâu để con tìm người”. Cụ Sáu đáp rằng Đức Cha Liêu đi ẩn mình trong núi, và ngài không biết Đức Cha ở đâu. Và để ra sức làm an những lo âu của tâm hồn áy náy đó, ngài nói với cậu: “Hãy đến trình với cha xứ con, xưng tội với người và giãi bầy cho người trường hợp của con, hãy nghe người bảo con, vâng theo lời chỉ dẫn của người và con sẽ được bình an”.

Nhưng lời chỉ bảo đó, Phaolô thường được nghe: “hãy đền tội, hãy làm gương các nhân đức, và chờ đợi các bề trên ban phép để trở về nhà Đức Chúa Trời”. Nhưng thế chưa đủ đối với sự ăn năn, lòng yêu mến của cậu. Cậu khao khát quay về Nam – Định và sửa lại tội mình cách công khai, bằng cách làm cho việc xưng đạo và chịu chết của cậu cũng có một sự vang động như việc xuất giáo buồn thảm của cậu đã gây nên.

Phaolô ước ao giá được gặp lại Cụ Sáu, nhưng trong quãng thời gian giữa hai lần gặp gỡ, Cụ Sáu bị bắt ở nơi Cụ trú ẩn ở Lan – mát, bị điệu đi giam ở nhà ngục Hà – nội. Cả ngày trong lúc Cụ bị bắt, mười thầy sáu trung thành đã làm một ơn cuối cùng cho thầy mình, vì nhờ Cụ truyện trò khéo léo và lâu giờ với bọn lính lệ, mà Đức Cha Chiêu có thì giờ chạy trốn và đi ẩn mình ở một miền khác ở Bút – Sơn. Phaolô xin một bà gì đứng làm trung gian và mang thơ của cậu đến vị tù nhân. Cậu chờ đời mệnh lệnh, hay đúng hơn sự cho phép để đi thực hành ý định dũng cảm của mình. Cậu viết: “Con không được bình an trong lòng, xin Cụ thương con và liệu cho con phương thế để xưng Đạo ra lần nữa”. Cụ Sáu đáp lại, quả quyết với cậu là cứ an tâm, và tuân theo lời dạy của linh mục: “con cứ làm tất cả những gì cha xứ bảo con.”

Phaolô cho những điều kiện đó quá dễ dàng. Năm ngày sau, cậu lại viết thơ, hy vọng một lời đáp giống hơn với ước nguyện của mình mỗi ngày mỗi nồng nhiệt. Cậu nhắc lại: “Con nai xin Cụ thương con, vì con đã làm tất cả, những gì cha xứ dạy con, và thế mà lòng con vẫn đầy lòng lo âu sự hãi.” Cụ Sáu không nghĩ mình có thể bỏ cách xứ trí ban đầu, cụ đáp lại: “Dù con làm gì mặc lòng, con phải theo lời dặn của cha xứ con; con hãy vâng theo tất cả lời người bảo con”.

Người niên thiếu đạo đức khẳn khoản lần thứ ba, yêu cầu một sự quyết định chính cậu đọc ngay cho thầy già. Ba hôm sau, cậu viết rằng: “Lạy Cụ, con nài xin cụ, xin cụ liệu cho con phương thế để tìm thấy sự bình an trong lòng. Con đã làm tất cả những điều linh mục truyền cho con, con đã gánh nón mẹ con làm mang đi trợ bán, con đã làm tất cả những việc hèn hạ khổ cực nhất, con đã nhịn đói, đã đền tội, và thế mà con chưa thấy bình an trong linh hồn. Vì thế, dù sao mặc lòng, nhất định con phải đi xưng đạo một lần nữa”.

Lần này thầy già nghĩ không thể đi ngược lòng kính mến anh hùng mà thánh linh Chúa thúc giục một cách hiển hiện. Được bà gì cậu cho biết về tâm tình, về cách ăn ở và lòng dũng cảm của người cháu, cụ giao cho bà về bảo Phaolô cụ cho phép làm theo ơn soi sáng đó; song thầy già đó khiêm tốn đó không quên dặn: “Phaolô phải theo những lời các linh mục dạy, giờ đây, nếu cậu nhất định muốn sửa lại sự xúc phạm đến đạo và muốn làm vinh danh Chúa, thì cậu phải về Nam – Định và phải xưng đạo ra ở ngay nơi mà cậu đã bước qua Cây Giá trước đây”.

Phaolô tiếp nhận sự quyết định đó với lòng biết ơn và sung sướng. Cậu ra định từ trước: cậu sẽ trở về pháp – đình Nam – Định. Mấy ngày sau, chính cụ bị án phát lưu lên Lạng Sơn, cụ thuật lại ngày 26 tháng 10 cho em cụ là Pháp về lòng thống hối, sự trở lại và việc tử đạo của con người đã đến trước mình để lĩnh phần thưởng trên trời. Khi trở về Bắc – Kỳ, thày già Sáu tuổi tác, nay thành Cha Sáu, phải giữ mãi ở nhà Chung cái kỷ niệm về đứa trẻ dũng cảm mà ngày nay, nói đến Cha vẫn xúc động.

_________________________________

Lúc này Cha Sáu làm chính xứ

Phát Diệm, và đã 76 tuổi.

X

CUỘC PHẢN CUNG

(từ 10 đến 14 tháng chín 1858)

Vào Lễ Sinh – Nhật Đức Trinh – Nữ, ngày 8 tháng chín 1858, hai ngày sau khi nhận được phúc đáp của Cụ Sáu, Phaolô mặc áo thâm dài mà các học sinh nhà Đức Chúa Trời quen mặc ở nhà thờ hay trong những trường hợp khác thường. Hôm nay, cậu nghĩ mình có quyền và có bổn phận phải mặc lại áo đó, vì sự bội giáo vì cậu đã chê chối tận đáy lòng và ngay cả trước mặt người khác bằng cách ăn ở nên gương, và nhất là cậu đã quyết định sửa lại sự yếu đuối bằng một cuộc phản cung công khai rõ ràng.

Bà Maria Mẫn đang ngồi ung dung ăn cơm chiều, bỡ ngỡ thấy con mình chiếc áo trùng thâm cậu vẫn luôn luôn xưng mình là không đáng mặc. Bỡ ngỡ hơn nữa khi thấy cậu đến lậy bà hai lậy và nói: “Thưa mẹ, con lạy mẹ: Mẹ ơi! Khi mẹ cho phép con vào nhà Đức Chúa Trời, ý mẹ là muốn cho con lo việc rỗi linh hồn ở đó. Thế thì, giờ đây, lạy mẹ, mẹ ở nhà bằng an; phần con, con quyết định sắt đá là đi tìm con đường giúp con rỗi linh hồn”. Chào mẹ xong, cậu biến mất, không tỏ cho bà biết gì về ý định cũng như con đường cậu đi. Bà mẹ, quen thấy con mình thường ra đi để bàn hỏi với các linh mục, các cha thừa sai, không lấy làm lạ về cuộc ly biệt bí nhiệm và việc lên đường đột ngột đó. Song, cách mặc áo thâm dài, nỗi xúc động biểu lộ trong giọng nói của Phaolô, làm cho bà cảm thấy lờ mờ trước về những biến cố mã sẽ chẳng mấy chốc nghe biết do thiên hạ đồn thổi.

Phaolô không muốn ra đi mà không đến chào bà Mata Lịch, người ân nhân bà mẹ thiêng liêng cậu. “Thưa bà, con từ giã bà, đây là lần sau hết bà và con gặp nhau. Bà hãy ở lại bình an và cầu cho con”; và cậu tiếp tục lên đường, không muốn giải thích gì thêm.

Ngày hôm sau nữa, ngày 10 tháng 9, trời đã tối, Phaolô Bột bước chân vào thành phố Nam – Định. Cậu vui mừng và hiên ngang nghĩ đến những gông cùm cậu sắp mang, cũng như đã buồn phiền và xấu hổ khi nghĩ đến sự tự do người ta trả cho cậu ngày 25 tháng giêng.

Qua thành phố, cậu đi ngay đến thành nội, nơi các quan trên của tỉnh đóng đinh; nhưng các cổng thành đóng và lính không chịu mở cho cậu. Bó buộc cậu phải qua đêm trong một nhà trọ và để đến mai việc thực hiện ý định. Sáng ra cậu đi vào thành nội và tiến thẳng đến dinh quan tổng đốc. Cậu biết ông thượng Hưng giận gắt thịnh nộ, thế nào cũng cho cậu cơ hội được chịu tử đạo.

Cậu vừa vào cổng dinh, gặp ngay một viên bồi thẩm; ông này nhận ra cậu: “Em ơi! đi đâu thế? Có phải em đã ra hầu toà ở đây it lâu trước phải không?” – Phaolô đáp: “Vâng, hồi tháng giêng, tôi bị bắt vì có đạo, người ta điệu tôi đến Nam – Định, và quan tổng đốc bắt tôi đạp lên Thánh Giá mà không cho tôi có thì giờ để phân trần. Hôm nay, tôi trở về đây để xưng đạo lần nữa”. -Quan đó xúc động về khí phách anh hùng và cũng vì một cái gì dễ thương dễ mến hiện ra trên nét mặt Phaolô. Ông động lòng thương xót, và có ý định cứu đứa trẻ khổ sở bất đắc dĩ đó, gỡ cậu cho khỏi nanh vuốt của ông quan tàn bạo. Ông đưa cậu bé về nhà riêng mình định khuyên Phaolô không nên chạy đi xưng đạo và chịu chết như thế.

Ông nhắc lại: “Em ơi: đừng có tìm vào dinh quan tổng đốc. Lúc này ông ta dữ tơn như sư tử; nếu em vào với ông ta, em không thoát chết được.”

Những lời khuyên can đó chẳng làm Phaolô đổi ý chút nào, vì chính là sự chết mà cậu tìm, và sự độc dữ của ông Hưng là một bảo đảm chắc chắn sự tử đạo cho cậu. Song le, viên quan đó không ngã lòng, dù ông ta tỏ ra hoạt bát lý luận mà không kết quả là bao; và ông giữ rịt người thanh niên đó trong nhà mình để coi sóc. Nhưng ngày thứ ba, Phaolô lừa lúc hở cơ, và khi quan kia ở nhà đi hội nghị với các quan trên trong tỉnh, vừa kinh ngạc, vừa buồn phiền khi thấy người giam của ông đột nhập phòng hội nghị.

Phaolô đứng đó, mặt mày tươi tỉnh, điệu bộ cương quyết. Cậu nói lớn sau khi vái các quan hai vái: “Tôi là Bột”. Rồi cậu quay về phía quan tổng đốc: “Tôi bị bắt ở Kẻ – Báng và bị điệu đến đây. Quan lớn có truyền cho tôi bước qua Thánh Giá, tôi không làm, và những lính đã lôi kéo tôi lên Thánh Giá. Hôm nay tôi đến để phủ nhận việc xuất giáo trước mặt các quan lớn để quan lớn biết cho rằng tôi không chịu quá khoá”.

Viên tổng đốc tàn ác bị mất thể diện hết sức tưởng tượng. Ông cẩn thận không nhắc đến việc bị xúc phạm đó trong bản sớ tâu lên vua, bản nay chỉ là một mớ thêu dệt bằng những điều rối trá. Ông viết: “Hạ thần đã tiếp viên đội trưởng Nguyễn – Đức – Khiết, thuộc cơ 8 đội 2. Hắn có dẫn một tên kia đến. Viên đội nói với hạ thần: “Con đã bắt gặp người này có vẻ người lạ, tên đó vào trong thành kêu lớn tiếng hết sức rằng  hắn muốn theo đạo Da – tô, hắn theo đạo Da – tô, rằng trước kia hắn đã bước lên thập tự để đi ra khỏi thành, nhưng hắn muốn lại theo đạo Da – tô và hắn không bao giờ bước chân qua thập tự nữa. Con đã giữ hắn lại và khám xét, hắn đeo ở cổ một thập tự và một áo đạo (áo Đức Bà). Đó là lời viên đội trưởng thuật lại cho thần nghe.”

Rồi viên tổng đốc nhấn mạnh đến sự ngẫu hợp giữa việc Phaolô đến, và việc xuất hiện hai chiếc tẩu người Âu; ông ám chỉ cậu đến để do thám và xem có sự việc xẩy ra; thế rồi ở cuối bài tường thuật, ông công nhận rằng Phaolô không tìm cách trốn ẩn, và chính cậu đích thân đến. Ông nhận xét khi nói về kitô – hữu: “Sự có mặt của hai chiếc tẩu người Âu đi lại ở nơi chúng ta, khích lệ bọn đó; và bọn đó không cần đợi để xem có phải là tẩu của một nước có đạo chăng. Bằng chứng là tên Bột, trước kia đã bước qua thập tự, bây giờ chẳng sợ hãi gì, đến nỗi giữa ban ngày, dám đột nhập thành rồi kêu lớn tiếng là mình muốn giữ đạo, thà chết chứ chẳng thà chối đạo nữa, và nó còn tuôn ra vô số lời thật liều lĩnh lạ lùng”.

Những lời trên chứa đầy một sự mâu thuẫn, tỏ ra sự hờn giận và kiêu ngạo làm cho sai lạc tới đâu.

Nếu viên tổng đốc định lừa dối hoàng đế, ông ta không thể dấu các quan tỉnh và quan án là ông ta đã bị mạo phạm ngay giữa quan toà bởi một cậu bé 18 tuổi. Tất cả đều hiểu việc ông bị mất thể diện bằng tiếng kêu hung dữ ông thượng Hưng đã gào lên khi thấy người xưng đạo trẻ trung đi vào công đường. đằng khác người thiếu niên kia nhắc lại luôn rằng: “Tôi vẫn giữ đạo từ đáy lòng, và tôi phàn nàn vì tội tôi đã phạm đến Chúa tôi”. Chính vì đó mà tôi trở lại Nam – Định. Tôi là người có đạo, và tôi chỉ muốn giữ đạo để được khỏi tội tôi đã chót phạm khi bước qua Thập Giá. Quyết định sắt đá của tôi là từ nay tôi giữ Đức Tin cho đến chết. Không bao giờ tôi bước qua Thánh Giá nữa”.

Viên tổng đốc cảm thấy mình bị thua từ trước. Nên không vì để thử thách đức tin của Phaolô cho bằng việc báo thù mình bị mất mặt, ông truyền đánh 120 roi, vì ông không ngại việc đi quá giới hạn pháp luật ấn định. Người thanh niên tỏ ra vững vàng không gì lay chuyển. Chính viên tổng đốc thuật lại rằng: “trong cuộc tra tấn hắn, hắn tỏ ra bạo dạn và không thú nhận gì cả. Hai hay ba lần tôi thử làm cho hắn theo lẽ phải, nhưng hắn luôn nhắc đi nhắc lại với tôi rằng: “Tôi không bằng lòng bước qua Cây Giá đâu, kẻo mất nghĩa cùng Đức Chúa Trời, là Chúa tôi. Tôi chỉ xin ông xử tử tôi thôi”.

Phaolô biết những lệnh của ông Hưng tàn ác còn độc dữ hơn cả hoàng để mà ông vẫn vượt qua những chiếu chỉ: “Khi có bắt được một người nhà Đức Chúa Trời, thì cứ chém đầu, hay cho đi phát lưu hoặc tống ngục”. Vậy mà, đối với những người ngoại, Phaolô Bột vẫn là một nhân viên nhà Đức Chúa Trời. Một chủng sinh, và cậu cũng là như thế trước lương tâm của cậu trả lại cho cậu mọi quyền lớn đã mất. Cậu cũng biết rằng ông Hưng sẽ chọn cho cậu hình phạt nặng nhất, vì ông ta vừa chém đầu hai vị xưng đạo là Huy và Thể, là binh lính thuộc địa phận I – pha – nho: hai ông đã không chịu bước qua Thập Giá, và theo lời của chính viên tổng đốc, còn lui lại ba đến năm bước, miệng kêu lên: “Chúng tôi muốn theo đạo Chúa kitô và không bao giờ xuất giáo.”

Dù phải đòn đánh đau đớn và thấy sự chết hiện ra trước mắt, nét mặt Phaolô phản chiếu tất cả niềm vui mừng cảm thấy trong lòng được sống chết vì Chúa Giêsu Kitô. Diện mạo người thanh niên tốt đẹp đó, sự bắt khẳng của người xưng đạo anh dũng làm cho cơn giận của tên bạo chúa bùng lên đến cực độ; ông không kéo dài cuộc tra tấn nữa, kết án Phaolô Bột vào một hình khổ độc giữ nhất, là bị voi dày.

Một bản án kinh khủng; một khổ hình rùng rợn làm chúng ta nghĩ đến cũng phải rợn người. Người thanh niên khổ sở đó không nghĩ đến khổ hình đó, vì hình khổ đó không phải cho người Việt – nam; nhưng thế mới hợp với lòng hằn giận, sự oán thù của ông Hưng. Song le Phaolô cam chịu, và nén lòng sợ hãi tự nhiên, cậu tuyên bố là không bao giờ quá đối với việc đền tội của cậu, và xứng đáng nước thiên đàng.

Bị kết án rồi, Phaolô phải mang một gông nặng và điệu vào ngục.

Theo thủ tục của hình luật Việt – nam, án các quan ra phải đệ vào Kinh, để Toà án tối cao án tử hình duyệt, rồi được vua phê chuẩn; và có thể thay đổi tuỳ ý. Chỉ khi có sự phê chuẩn của triều đình, án quan tổng đốc ra mới được thi hành, trừ trường hợp khẩn cấp, ví dụ có nguy cơ cho nền an ninh nhà nước.

Nếu việc xử án theo đường lối thông thường, phạm nhân phải ngồi mấy tuần lễ trong ngục, đợi sự phán quyết của nhà vua, hoặc là phải chết, hoặc được tha. Xưng lòng căm hờn của ông Hưng phải gia tốc những biến cố.

Vì viên tổng đốc không đủ nhẫn nại để theo những thủ tục đó. Ông biết mình có đủ thế lực để coi thường luật pháp và làm được những điều phi pháp, nhờ sự che chở nhơ nhớp ông được do địa vị một trong các con gái ông đang sống trong chiều Tự Đức. Ông ra lệnh phải coi như là quyết định án ông đã ra trong lúc điên hoảng và căm hờn, và phải xử tử ngay ngày mai cái tên hỗn xược giám xúc phạm đến “bản chức” và đi theo cái tả đạo đó.

Song le, để có vể tôn trọng hình thức cai trị, viên tổng đốc “lập từ phúc bẩm với sự việc đã được xác minh đầy đủ”, ngày 26 tháng chín, xin với triều đình ý án ông đã ra. Ông nói “nếu không có lý do khẩn trương, hạ thần chờ lệnh bệ hạ để xử việc này, nhưng nếu hạ thần thấy có lý do quan trọng và khẩn trương để hành động, hạ thần xin thu xếp vấn đề ngay lập tức, không đợi chờ. Hạ thần nói thế để thánh thượng đừng trách hạ thần về việc đó. “Vậy mà khi viết bản trình tâu giả hình đó, người bị án đã bị xử từ một tháng rồi.

Người ta khó mà tưởng tượng nổi việc một viên thủ hiến một tỉnh mà lại có sự gian trá như thế. Những chi tiết trong bản phúc trình cố nhiên được thêu dệt bằng những sự rối trá. Có vấn đề một chiếc tẩu người Âu mà sự có mặt đã khuyến khích tên Bột giám khinh nhờn các quan ngay cả ở chốn công đường, đến nỗi người ta thấy nó xông vào dù lính canh cổng rất nghiêm ngặt, “vào cả nội thành như nó chẳng sợ gì cả”. Quan Toà không đề nghị sự vua chuẩn y cực hình voi dày, vì một người Việt – nam không thể bị kêt án đó, và ông chỉ nói một tháng sau khi thi hành bất hợp pháp về mọi mặt rằng: “Tên Bột sẽ bị lính điệu qua các phố trong thành, đưa ra ngoài thành. Khi đến nơi xử các tù, sẽ chém đầu hắn”.

Đó, những người có đạo bị đối xử như thế nào: bị đặt ngoài pháp luật do những người bắt đạo tàn ác, bị truy nã, bị cướp bóc, vu vạ, bị tàn sát theo sở thích các quan. Bọn đao phủ theo đuổi những nạn nhân của mình cả sau khi họ chết rồi,vì những bản tường trình chính thức chính tông nhất, và về những vấn đề quan trọng nhất, đã được viết ra để được chúng ta sai lầm và những lý do kết án, về cách xử án,và ngay cả ngày tháng các kẻ đó chết nữa.

XI

CUỘC TỬ ĐẠO

(14 tháng chín 1858)

Thế rồi, PhaoLô bị điệu vào ngục, nơi mà mấy năm trước cha thánh Hương đã bị giam. Thương ôi! Cậu không được sự an ủi mà vị tử đạo dũng cảm đã được, khi cha Tịnh kiệu của ăn đàng cho người tối trước ngày chịu xử.

Lòng độc ác của ông Hưng không để cho anh em Phaolô có thì giờ đến an ủi cậu. Song, tưởng niệm đó, cậu lấy làm êm ái, vì bề trên cậu là Cha Tịnh đã thuật lại cho cậu mọi chi tiết về cuộc thăm cha Hương lần cuối cùng ở nhà giam Nam – Định.

Ngày hôm sau, thấy sự động tĩnh trong thành nội, câu đoán là viên tổng đốc làm theo những đe doạ và duy trì bản án độc dữ.

Vì ngày 14 tháng chín, Lễ tôn vinh Thánh Giá, vào hỗi 10 giờ sáng, Phaolô bị lôi khỏi nhà giam và điệu đi, mình đeo gông, đến nơi cậu phải chịu khổ hình độc dữ.

Bọn áp tải, gồm một cơ binh rưỡi tức là 75 người, mang gươm giáo, dưới sự chỉ huy của viên quan chủ sự việc hành hình. Viên giám sát đó ngồi trên một con voi dùng vào việc xử người bị tử hình. Ông Hưng đã muốn cho việc báo thù của ông có vẻ long trọng để reo rắt sự khủng khiếp, đó là cái lối cai trị thần hiệu của ông.

Đi trước mặt người bị xử, là một tên lính mang bảng có viết tên vị tử đạo và lý do việc hành quyết; và để không còn ai không biết, thì một tên lính khác thỉnh thoảng xướng tên người bị xử.

Đáng khác, chẳng cần gì phải xưng danh như thế, vì Phaolô luôn luôn khát khao được sửa lại gương xấu, ngắt việc cầu nguyện để tuyên bố với những người đi xem là cậu chịu chết để sửa lại việc xuất giáo đã sinh gương mù cho họ hồi tháng giêng năm ngoái. Cậu nhắc lại: “Tôi là Bột, tôi bị bắt ở Kẻ -Báng mấy tháng nay. Quan tổng đốc truyền cho tôi phải bước qua Thánh Giá, tôi chối không làm. Nhưng quan lớn thượng đã cho lính kéo tôi trên Thánh Giá. Tôi đến để phủ nhận việc xuất giáo của tôi, vì thế quan thượng truyền tôi phải chịu khổ hình các ông bà thấy đây. Xin các ông bà biết cho.” – Trên gương mặt người thanh niên đó, phản chiếu sự bình an cậu đã tìm lại được và sự vui sướng cảm thấy khi trở lại có nghĩa cùng Chúa mình, và được xưng Chúa ra cách công khai. Mặt trời giãi sáng êm êm, và xem như hoà mình vào với buổi lễ này, vì đối với phaolô, ngày đó thật là ngày đại lễ.

Những người đi xem bỡ ngỡ trông thấy cậu tươi sáng như thế trong một tình cảnh ảm đạm và giữa một khung cảnh xếp đặt có lẽ làm dung cả những người anh dũng nhất. Họ bảo nhau: “Người kia đi chịu khổ hình, chịu chết mà mặt mũi vui vẻ tươi sáng thế; “Người khác động lòng thương xót, có khi muốn thấy cậu vâng lệnh quan để khỏi khổ hình. Họ nói lớn: “Phí quá; tai hại quá; một người thanh niên sinh đẹp như thế; sao anh không bằng lòng quá khoá đi có phải khỏi chết không?” người khác . trái lại, thán phục lòng cương quyết của cậu: “khi đã theo một bè nào là phải giữ mãi, đó là lòng tin của bọn họ (người có đạo). và làm thế họ tin rằng được hạnh phúc”.

Song người ta không quên được rằng đám tuần hành dài dặc đó chỉ là đám tang, mà khung cảnh ảm đạm đặt ra chỉ làm nổi bật sự bình thảm êm ái của người tử đạo. Hầu cứ mỗi bước, lại vang lên tiếng chiêng, một thứ tiếng ảo não chẳng khác tiếng lệnh. Hai con voi lù lù nặng nề kia phải đè bẹp cậu bé mảnh dẻ; trông thấy thì người bàng quan lãnh đạo nhất cũng phải kinh khiếp run sợ.

Đám tuần hành ra khỏi thành nội qua cửa Đông, rồi đi qua các phố Nam – Định. Cứ mỗi ngã tư, viên giám sát lại dừng chân để công bố sự trả thù của quan thượng. Một hiệu – lệnh viên dịch loa: “Tên tù phạm này là một môn đệ các đạo trưởng; trước kia hắn đã quá khoá; nhưng rồi hắn đến phản cung việc quá khoá trước mặt quan thượng. Vì thế quan thượng truyền nó phải voi dày”.

Trong hầu hết các nước, lòng độc dữ dịu bớt đi trước một người bị án tử hình, và người ta cho một thứ gì để làm nhẹ sự cay cực giờ sau hết và những lo âu cực hình. Chính người Do – thái xem ra ban ơn đó cho Chúa chịu Đóng đinh. Sự điên hoảng của ông Hưng còn độc ác hơn, đối với người môn đệ, vì ở mỗi chặng nghỉ, người ta truyền cho người bị xử phải nằm xuống đất và mỗi lần đánh năm hay sáu roi. Cậu sẵn lòng chịu, vì cậu sung sướng được chịu khó, và chịu khó cách công khai để chuộc lỗi lầm mình.

Sau mỗi lần dừng chân đẫm máu đó, đám tuần hành cuối cùng đến đầu tỉnh. Qua cửa nam và đến pháp trường.

Viên giám sát xuống voi và bước lên tường thành để quan sát công việc chuẩn bị hành hình và lệnh cho lý hình.

Lính đứng thành vòng, ở giữa là người bị xử, các lý hình và voi.

Đến nơi xử, người tử đạo can trường nhắc lại lời tuyên xưng đức tin của mình rằng: “Xin mọi người có mặt đây biết cho sự thật. Tôi là Phaolô Bột, tôi đã dại dột quá khoá; nhưng tôi đã đến để phủ nhận việc tôi xuất giáo, và vì thế quan thượng truyền phải chịu hình khổ mà mọi người thấy đây.”

lý hình để cậu ngồi xuống, cưa gông ra.

Trước khi bịt mặt để sửa soạn chịu khổ hình, Phaolô xin được cầu nguyện lần sau hết. Bọn lính xúc động vì giọng nói dịu dàng, cảm thấy không đủ cam đảm từ chối cậu sự an ủi đó. Phaolô nhờ được lúc họ dừng tay, ngửa mặt lên trời, nơi mà lòng hy vọng tươi sáng sắp được tới, xoá nhoà khung cảnh ảm đạm đang diễn ra trước mặt cậu; cậu hát lên với các thánh Tử Đạo:

“Con vui mừng về lời này:

Hôm nay con sẽ vào Nhà Chúa”.

Những lý hình, sợ làm cac quan sốt ruột, và bị quở mắng, ngắt lời nguyện của người tử đạo. Phaolô, theo lệnh họ truyền giơ cánh tay cho họ trói. Rồi cậu ngồi xẵn xuống, hai gối chấm vai để bọn lý hình có thể chói chặt thành một khối tròn cho voi dễ bắt lấy. Sau cùng, lý hình bịt mặt cậu lại. Cuộc sửa soạn kinh khủng, nguyên vẽ lại cũng làm ta rợn rùng.

Thế nhưng, đứng trên tường, viên giám – sát tỏ vẻ sốt ruột trông thấy; quát loa; “Đã xong chưa nào” – lý hình thưa: “Bẩm đã”. – ông ta ra lệnh: “thúc voi đi”.

Phaolô thấy mình tới lúc giao tranh cuối cùng, tới cơn đại hấp hối, dâng lên trời lời nguyện cuối cùng: “Giêsu, Maria, xin giúp con” cậu kêu ba lần như thế với một giọng bi ai thống thiết, và cậu chờ lệnh chết.

Thế là lính thúc voi; con vật bị đánh, hoảng sợ, không giám đến gần người bị tử hình. Nó lùi lại và quay tứ phía, dù người quản tượng cố thúc, ra như nó ngàn ngại không muốn tiếp tay với lòng độc ác, những con voi này còn xấu xa hơn là những thú vật hung dữ. Bọn lính phải đánh nó tới tấp và lấy giáo đâm nó. Bấy giờ con voi xông vào kẻ thù yếu đuối nhất, tấn công người khổ hình khổ sở, bất lực, bị chói chặt. Trước hết nó đá một cái, rồi lấy vòi quấn và tung lên trên không ba lần, cao độ năm, sáu thước. Sau đó, nó dẫm chân lên, và cả khối nặng xác voi nghiền nát cậu, xương sườn nát rừ, sọ bị vỡ.

Khi con vật đã bỏ cái xác bất động, người lý hình chính đến gần định chặt đầu vị tử đạo: Chặt đầu như thế lại thêm nhục nhã cho kẻ tử hình. nhưng vì không quen, hay vì xúc động, anh chém nhiều nhát mà không đứt, và một viên giật lấy gươm của anh để kết thúc việc xử hình. Lúc đó là mười một giờ sáng.

Thế là Phaolô Bột đã chết, đã bị nghiền nát như hạt lúa miến. Tên của cậu xem ra chỉ cái lối chết cậu phải chịu, vì Đức Cha Khiêm đã lưu ý thế này: “Tên cậu là Bột, vậy thì có thứ hình khổ nào hợp với cậu hơn là được xay ra và nghiền nát vì Chúa”.

Cậu chết cho mặt đất và sinh ra cho thiên đàng, theo lời sách Tử Đạo, trong ngày Lễ Tôn Vinh Thánh Giá. Cậu cũng đã lấy lại Cây Giá đó, đã nâng lên, để tôn vinh, sau khi xem ra đã khinh chê và dẫm chân lên. Kỷ niệm về cậu từ nay sẽ là kỷ niệm vinh quang cho Giáo Đoàn Bắc Việt và đối với thầy chí thánh mà cậu đã can trường tuyên xưng.

Trời hôm đó trong vắt và sáng chói cả buổi sáng, bỗng mây mù bao phủ như khi Chúa Cứu Thế sinh thì, và mưa đổ xuống tầm tã. người đi xem, kinh ngạc vì sự đổi thay bất ngờ đó, thấy trong hiện tượng đó một biểu hiện ông giời lên án việc đại ác vừa làm. Sự trùng ngộ đó thường sẩy ra ở Bắc Kỳ khi sử án các Đấng Tử Đạo, và sự việc đó quen thuộc đến nỗi nhiều người, trong những năm cấm đạo, khi thấy một sự thay đổi đột ngột về thời tiết, thì tin rằng chính lúc đó người ta xử người tôi tờ nào đó của Chúa. Một nhà viết sử về Bắc Kỳ lưu ý về vấn đề đó là có nhiều người đáng tin cậy đã quả quyết rằng họ dự cảm như thế mà chưa nhầm bao giờ.

Thiên hạ cũng thường nói ác giả ác báo trong việc ông thượng Hưng chẳng mấy chốc bị sa thải. ông đã có thể tin rằng mình không thể bị thất sủng, vì vua Tự Đức đã ban cho ông một chứng thứ tha mạng từ trước, dù có phạm tội ác gì mặc lòng. Nhưng ngày nọ, ông liên lụy vào một công việc, việc triều đình, và hoàng đế dù tha mạng cho ông, nhưng tước mọi chức vị của ông. Năm 1863, ông phải rời tỉnh Nam – Định, nơi ông đã tác oai, tác quái quá lâu. Ông hy vọng mang đi của thu vén được do kết quả những đe doạ và tội ác của ông. Để chắc chắn không mất được, ông cho giấu vàng bạc của ông trong những chậu hoa chậu cảnh; nhưng cẩn thận thế mà không cứu được, vì quan tổng đốc Nghệ an biết được tài sản nhơ nhớp đó, đã bắt tất cả kho tàng của ông ta, và cho vào quĩ Nhà Nước, làm cho vua rất thoả mãn hưởng dùng. Ông ta phải bán cả đồ đạc để trả tiền chữa bệnh, càng làm cho ông ta khổ cực. Ông ta chết trong cảnh khổ sở, bạn hữu trong triều lảng xa. May mà nhận được vài của làm phúc do Đức Cha Bình địa phận Huế làm trung gian. Lấy thiện báo ác, đó là cách báo oán của những người kitô – hữu và các đấng tử đạo.

Cái chết của Phaolô Bột gây một ảnh hưởng tốt lành cho những người ngoại cũng như cho các kitô – hữu. Một quan kia có mặt lúc sử án và khi hành hình cậu; sau này làm tuần phủ Lạng – Sơn, thuật lại những chi tiết về cái chết đó cho Cụ Sáu lúc đó bị lưu đày. Cụ sung sướng về vinh quang của người học trò trai trẻ của mình. Ông ta càng tỏ vẻ khinh bỉ khi nói về tính hung ác của ông thượng bao nhiêu, thì càng đưa ra lời tán dương vị tử đạo bấy nhiêu. Ông nói: “Cầu Trời là chúng tôi cũng được trung nghĩa với vua chúng tôi như người thanh niên này đối với Chúa mình”.

Những kitô – hữu và chính những người ngoại muốn lấy vải thấm máu vị tử đạo, hay chiếm một di tích nào đó, nhưng lính canh gác nghiêm ngặt quanh thi hài, đập đánh tàn nhẫn những người định tới gần. Đầu bị bêu lên theo thủ tục, không có ý an ủi người tín hữu cho bằng gây bầu không khí khủng khiếp cho những người do dự.

Chiều đến, lý hình cầm chân tử thi, lôi đến một ao ở cuối pháp trường và quăng xuống một vũng trâu đằm. Đầu để ở chân thi hài; tất cả vùi bằng mấy nắm đất.

Sau kỳ bắt đạo, người ta thu nhặt những hài cốt quí gía đó, xương đã hoá đen vì để lâu dưới bùn, nhưng tất cả đều nguyên vẹn. Cố nhiên sọ bị nát ra và sương sườn bị gẫy vì chân voi dày.

Hài cốt người tử đạo được để cẩn thận vào quan tài, rồi đưa về nhà thờ cũ Nam  Định, xóm Năng – Tĩnh. Vào ngày 20 tháng 12 năm 1876, được khai quật lên và đưa về Tiểu Chủng Viện Phúc Nhạc, tỉnh Nam – Định. Trong những năm vừa qua, đã xây cất một ngôi mộ xứng đáng với vi Tử Đạo. Như thế Phaolô đã tìm thấy chỗ biết bao mong đợi của mình trong Nhà Đức Chúa Trời, và lấy lại hàng ngũ, giữa những chủng sinh, những người được hiên ngang về người anh em của mình, gương mẫu và làm quan thầy của mình.

Tôi sao bản này trong lúc tôi đang tập đánh máy. Tôi giữ nguyên bản của bản gốc đã được sửa lại lối văn của cốt truyện năm 1951, được đánh máy chữ trên một loại giấy rất mỏng.

Nguyễn Tiến Đạt: Họ Kẻ Lựa-  Xứ Sơn Miêng nay là (Họ Tiên Lữ- Xứ Canh Hoạch- Hà Nội)


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Categories

%d bloggers like this: